(Tuần từ 30/3 – 12/4/2026)
Thực hiện: Trần Phạm Bình Minh, Hoàng Việt Hải, Nguyễn Hoàng Trang
Hiệu đính: Nguyễn Nhật Minh

TÓM LƯỢC
(Tóm lược phục vụ việc nắm bắt nhanh cục diện. Vui lòng tham chiếu Toàn văn Báo cáo bên dưới cho chi tiết những diễn biến sự kiện, nguồn thông tin và hàm ý chiến lược.)
Trong tuần từ ngày 13 đến ngày 19 tháng 4, căng thẳng trên biển tiếp tục ở mức cao trên cả 4 khu vực: Biển Đông, Eo biển Đài Loan, Biển Hoa Đông, và Eo biển Hormuz. Những căng thẳng này bắt nguồn từ xung đột giữa Hoa Kỳ và Iran, sự hiện diện bán cố định của Trung Quốc ở Bãi cạn Scarborough, và vụ phóng tên lửa đạn đạo của Bắc Triều Tiên vào cuối tuần.
Trích lược thông điệp thiết yếu
1. Dữ liệu quan sát tháng 4 năm 2026 từ Kpler ghi nhận mật độ hiện diện đồng thời bất thường của lực lượng dân quân hàng hải Trung Quốc tại Bãi cạn Scarborough, trong đó có 18 tàu đăng ký ở Hải Nam được phát hiện qua AIS, và một tàu (QIONGSANSHAYU00311) đã neo đậu cố định liên tục trên 57 ngày. Kể từ cuộc đối đầu giữa Philippines và Trung Quốc năm 2012, Bãi cạn Scarborough đã chịu sự tuần tra liên tục của Hải cảnh Trung Quốc, kèm theo nhiều đợt bị lực lượng Trung Quốc dựng rào chắn: rào-dây xích năm 2012-2013, rào chắn dài 300 mét vào tháng 9 năm 2023, tái lắp đặt vào tháng 12 năm 2023, rào chắn 380 mét vào tháng 4 năm 2024, và rào chắn 352 mét vào tháng 4 năm 2026. Dữ liệu của Kpler cung cấp một mô tả chi tiết hơn dựa trên AIS về mô hình dân quân biển bán đồn trú, một mô hình đã được AMTI, Dự án Đại Sự Ký Biển Đông, và một số nhóm tình báo nguồn mở khác quan sát và ghi nhận tại Bãi Vành Khăn, Bãi Ba Đầu, Cụm bãi cạn Sinh Tồn trong giai đoạn 2021-2024.
2. Trung Quốc là quốc gia đầu tiên nhà lãnh đạo Việt Nam Tô Lâm tới thăm sau khi ông chính thức trở thành Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam kiêm Chủ tịch nước. Trong dịp này, hai bên Việt Nam và Trung Quốc đã ra tuyên bố chung trong đó phần về biển không có gì thay đổi so với những tuyên bố chung giữa hai nước trong những năm 2023, 2024 và 2025. Tuyên bố vẫn giữ nguyên công thức 符合包括《联合国海洋法公约》在内国际法, tái khẳng định “Thoả thuận về những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển giữa Việt Nam và Trung Quốc”, và nhắc lại ngôn ngữ quen thuộc về một COC hiệu lực và thực chất. Không có cam kết mới nào được đưa ra, cũng như không có sự thay đổi nào đối với những công thức hiện tại. Yếu tố có giá trị phân tích nhất là khoảng cách dịch thuật một cách hệ thống qua bốn phiên bản ngôn ngữ chính thức: Tiếng Trung – Tiếng Việt – Tiếng Anh được dịch bởi Việt Nam – Tiếng Anh được dịch bởi Trung Quốc. Bản tiếng Anh của Tân Hoa Xã nhất quán dịch từ “符合” thành “in line with” hoặc “conforms to” (có sự tương đồng / phù hợp định hướng), trong khi bản tiếng Anh của Việt Nam sử dụng cụm từ “in accordance with” (tuân thủ theo đúng / chiếu theo), vốn thể hiện một tiêu chuẩn tuân thủ nghiêm ngặt hơn về mặt pháp lý. Những công thức không đổi trong bản Tuyên bố chung bất chấp việc Hà Nội đã chính thức phản đối chiến dịch xây đảo nhân tạo của Trung Quốc ở Đá Hải Sâm vào tháng 3 năm 2026, một chiến dịch vẫn đang tiếp diễn ngay trong tuần lễ diễn ra chuyến thăm của nhà lãnh đạo Việt Nam tới Trung Quốc, là nhất quán với lập trường kiềm chế công khai mà Hà Nội đã xác lập đối với Bắc Kinh. Cách tiếp cận này nên được diễn giải trong bối cảnh ưu tiên chiến lược của Hà Nội là tăng cường kết nối với Trung Quốc, bao gồm việc bàn giao hồ sơ nghiên cứu khả thi tuyến đường sắt Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng, sự gắn kết với Sáng kiến Vành đai và Con đường (BRI), cùng khuôn khổ hợp tác chuỗi cung ứng được ký kết trong cùng chuyến thăm này.
3. Việc Nhật Bản lần đầu tiên kể từ sau Chiến tranh Thế giới thứ hai triển khai lực lượng chiến đấu tới Philippines, cùng với các cuộc diễn tập bắn đạn thật tên lửa chống hạm phóng từ mặt đất bằng hệ thống Kiểu 88 của Lực lượng Phòng vệ Mặt đất Nhật Bản, và các cuộc tập trận bắn chìm tàu đa quốc gia kết hợp với Philippines và các đồng minh, đã tái hiện các yêu cầu tác chiến cho các chiến dịch chống tiếp cận (A2/AD) dọc chuỗi đảo thứ nhất. Đợt triển khai này đánh dấu một sự thay đổi thực chất trong tư thế viễn chinh của Nhật Bản, vượt ra ngoài ý nghĩa biểu tượng đơn thuần của quân số được điều động.
4. Quyết định nổ súng vào các tàu mang cờ Ấn Độ của Lực lượng Hải quân Vệ binh Cách mạng Hồi giáo Iran (IRGC) phơi bày sự đứt gãy giữa giới lãnh đạo ngoại giao của Iran, đại diện là Bộ Ngoại giao, và giới lãnh đạo quân sự, đại diện là Hải quân IRGC. Hành động này chấm dứt chính sách miễn trừ phi chính thức mà Iran từng dành cho các quốc gia Châu Á không tham chiến, đồng thời thách thức một giả định nền tảng trong các mô hình đánh giá rủi ro đối với các quốc gia nhập khẩu năng lượng tại Châu Á.
5. Vào ngày 17 tháng 4, tàu chiến Nhật Bản JS Ikazuchi đã thực hiện hải trình đi qua Eo biển Đài Loan, đánh dấu cuộc quá cảnh đầu tiên qua khu vực nhạy cảm với Trung Quốc của Nhật Bản dưới thời nội các của bà Takaichi. Ngày 18 tháng 4, Bộ Tư lệnh Chiến khu Đông của Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc đã đáp trả bằng một chuyến tuần tra không-hải ở Biển Hoa Đông. Cùng khoảng thời gian này, một sự cố đã xảy ra giữa Trung Quốc và New Zealand liên quan đến chuyến tuần tra trên không của New Zealand. Nhìn tổng thể, các sự kiện này chứng tỏ rằng các đối tác nhỏ hơn của Hoa Kỳ đã sẵn sàng thách thức các yêu sách bành trướng quyền tài phán của Bắc Kinh trên Eo biển Đài Loan và khu vực Biển Hoa Đông – Hoàng Hải.
6. Vụ phóng tên lửa từ Sinpo của Bắc Triều Tiên vào ngày 19 tháng 4 phục vụ chủ yếu như một tín hiệu chiến lược hơn là sự trình diễn năng lực kỹ thuật mới. Cho dù nền tảng phóng là gì, vụ phóng tên lửa này phản ánh ý đồ chiến lược của Bình Những. Việc Hoa Kỳ đang phân tán lực lượng và can dự tại Vịnh Ba Tư tạo ra những cơ hội thuận lợi để Triều Tiên thể hiện sức mạnh ngày càng tăng với mức độ rủi ro tương đối thấp.
—-
MỤC LỤC
I. BIỂN ĐÔNG
I.1. Các hoạt động vùng xám và hành vi cưỡng ép của Trung Quốc
I.2. Các động thái mở rộng lãnh thổ và quân sự của Trung Quốc
I.3. Phản ứng của Philippines
I.4. Phản ứng của Việt Nam
I.5. Các cuộc tập trận quân sự đa phương và hoạt động liên minh
II. Đài Loan và Eo biển Đài Loan
II.1. Áp lực không-hải dai dẳng của Trung Quốc
II.2. Tự do hải hành qua Eo biển Đài Loan của bên thứ ba và những tín hiệu xuyên eo biển
III. 3. Biển Hoa Đông và Đông Bắc Á
III.1 Hoạt động của Hải cảnh và tàu khảo sát Trung Quốc
III.2. Hoạt động tuần thám biển của Liên minh Ngũ Nhãn và sự phản đối của Trung Quốc
III.3 Bán đảo Triều Tiên và Lực lượng Chiến lược Triều Tiên (DPRK)
IV. NHỮNG DIỄN BIẾN CHIẾN LƯỢC LIÊN KHU VỰC
IV.1 Khủng hoảng hàng hải Trung Đông và các yết hầu toàn cầu
IV.2. Các Diễn Đàn Quốc Phòng, Đối Tác và Chính Sách
Tải toàn văn Chuyển Động Biển Mở Số 5 ở đây.
Chính sách tiếp cận báo cáo và dữ liệu chuyên sâu của Dự Án Đại Sự Ký Biển Đông
Nguyên tắc hoạt động của Dự án Đại Sự Ký Biển Đông.
—————
Dự án Đại Sự Ký Biển Đông tồn tại dựa trên tài trợ của cộng đồng. Nếu quý độc giả muốn có một nguồn thông tin tri thức khách quan, đa chiều dựa trên chiều sâu chuyên môn và dữ liệu có hệ thống, Dự án Đại Sự Ký Biển Đông là một địa chỉ mà mọi người có thể tin tưởng. Hãy chung tay cùng với chúng tôi duy trì Dự án bằng cách tài trợ cho Dự án, và khuyến khích bạn bè, đồng nghiệp cùng tài trợ Dự án. Xem hướng dẫn tài trợ ở đây: https://dskbd.org/tai-tro-cho-du-an/. Báo cáo tài chính sẽ được tổng kết vào cuối mỗi hai năm. Chúng tôi xin trân trọng cảm ơn.