(Tuần từ 20/4 – 26/4/2026)
Thực hiện: Trần Phạm Bình Minh, Hoàng Việt Hải, Nguyễn Hoàng Trang
Hiệu đính: Nguyễn Nhật Minh
TÓM LƯỢC
(Tóm lược phục vụ việc nắm bắt nhanh cục diện. Vui lòng tham chiếu Toàn văn Báo cáo bên dưới cho chi tiết những diễn biến sự kiện, nguồn thông tin và hàm ý chiến lược.)
Tuần từ ngày 20 đến 26 tháng 4 năm 2026 được định hình bởi sự hội tụ của ba quỹ đạo: chiến dịch củng cố đa lĩnh vực bài bản và đồng bộ nhất của Bắc Kinh tại Biển Đông kể từ khi hoàn thành các tiền đồn tại quần đảo Trường Sa vào năm 2017; cuộc tập trận Balikatan có quy mô lớn và được liên kết mạng lưới rộng rãi nhất từ trước đến nay, với Nhật Bản lần đầu tiên được tích hợp với tư cách đối tác chiến đấu đầy đủ; và sự dịch chuyển liên tục của lực lượng hải quân chiến đấu cấp cao Hoa Kỳ sang Trung Đông để thực thi lệnh phong tỏa hàng hải đối với Iran. Những diễn biến này diễn ra trong bối cảnh trật tự hàng hải quốc tế dựa trên luật lệ đang suy yếu về mặt cấu trúc. Cùng với đó, việc Đức công bố chiến lược quân sự độc lập đầu tiên kể từ năm 1955 và Chiến lược Quốc phòng Quốc gia (NDS) năm 2026 của Úc đã phản ánh một nhận thức đang thành hình tại các thủ đô đồng minh rằng môi trường an ninh khu vực và toàn cầu hiện đã thu hẹp đáng kể không gian tự do hoạt động so với 18 tháng trước.
Trích lược thông điệp thiết yếu
1. Trung Quốc đang củng cố không gian hàng hải mà nước này tuyên bố chủ quyền trên nhiều hướng song song thông qua các biện pháp thực địa, học thuyết và chính trị. Các hành động gần đây bao gồm hoạt động xây đảo nhân tạo tại Bãi Hải Sâm (Antelope Reef) thuộc quần đảo Hoàng Sa; một chương trình phát triển được đẩy nhanh nhắm tới hơn 11.000 thực thể mà Trung Quốc tuyên bố chủ quyền; và việc triển khai tàu sân bay Liêu Ninh cùng tàu tấn công đổ bộ có khả năng mang máy bay không người lái Type 076 Tứ Xuyên về hướng nam trong cùng một tuần. Các diễn biến này có một số hàm ý chiến lược: chúng củng cố chính sách tạo sự đã rồi trên thực địa với chi phí đảo ngược ngày càng tăng, nâng cao ngưỡng rủi ro cho sự can thiệp của các đồng minh, và làm suy yếu cả đòn bẩy đàm phán của ASEAN trong tiến trình Bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông lẫn các nền tảng pháp lý hỗ trợ các bên tranh chấp Đông Nam Á. Ngược lại, một xu hướng đối trọng đang hình thành vào năm 2026. Xu hướng này bao gồm sự hình thành mạng lưới Hiệp định Tiếp cận Hỗ tương giữa Nhật Bản, Philippines và Úc, việc mở rộng liên tục các địa điểm EDCA tại Philippines, và các điều chỉnh thế trận quân sự của Hoa Kỳ và Nhật Bản, tất cả đang siết chặt vành đai an ninh xung quanh Bắc Kinh. Chiều sâu và tốc độ hội nhập của các phản ứng này vẫn còn là điều cần theo dõi, đặc biệt khi Hoa Kỳ đang dồn sự quan tâm ở Trung Đông với việc lần đầu tiên sau chiến tranh Iraq đã triển khai ba nhóm tác chiến tàu sân bay tới khu vực này.
2. Batanes và Itbayat là yết hầu án ngữ tại Eo biển Bashi. Việc mở rộng không gian tác chiến của tập trận Balikatan 2026 đến hai khu vực này, kết hợp với việc Nhật Bản lần đầu tiên khai hỏa hệ thống tên lửa chống hạm mang tính tấn công từ bên ngoài lãnh thổ, đánh dấu một bước chuyển biến về chất trong kiến trúc răn đe của đồng minh dọc theo chuỗi đảo thứ nhất. Cuộc tập trận này tái định khung mô thức ứng phó rằng bất kỳ kịch bản xung đột (contingency) nào ở Đài Loan hay Philippines đều sẽ tự động kích hoạt một phản ứng mang tính mạng lưới của toàn liên minh, thay vì chỉ mang tính song phương thuần túy hay lệ thuộc vào sự dẫn dắt đơn phương của Hoa Kỳ.
3. Việc Bắc Kinh sử dụng một bài bình luận dưới bút danh có tính định hướng “Chung Thanh” (钟声 – Tiếng chuông) trên Nhân Dân Nhật báo đúng vào ngày khai mạc Balikatan, trong đó công khai lấy thế trận quân sự của Philippines làm điều kiện tiên quyết cho hợp tác năng lượng, đã chính thức hóa cưỡng ép kinh tế thành một công cụ ngang hàng với áp lực vùng xám trên biển. Tình trạng khẩn cấp về năng lượng của Manila, bị châm ngòi do việc đóng cửa Eo biển Hormuz, đã mang lại cho Bắc Kinh một đòn bẩy mới và trực diện.
4. Việc đồng thời triển khai ba nhóm tác chiến tàu sân bay Hoa Kỳ đến khu vực trách nhiệm của Bộ Tư lệnh Trung tâm (CENTCOM) và việc chính thức mở rộng phong tỏa hàng hải của Hoa Kỳ đối với các cảng Iran vươn ra khu vực Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương đang tạo ra những chi phí chiến lược tích lũy nghiêm trọng. Mỗi tàu sân bay hiện diện tại CENTCOM đồng nghĩa với việc khuyết đi một nền tảng sẵn sàng cho nhiệm vụ răn đe tại Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương đúng vào thời điểm hoạt động quân sự của đồng minh tại Philippines đang ở cường độ cao nhất. Trong khi đó, cách định khung mang tính áp đặt tối đa của Hegseth về thẩm quyền của Hoa Kỳ đối với Eo biển Hormuz lại thiết lập một tiền lệ làm xói mòn chính trật tự dựa trên luật lệ mà Washington tuyên bố bảo vệ.
5. Nỗ lực mới của Indonesia nhằm thúc đẩy ký kết Bộ Quy tắc Ứng xử (COC) trong năm 2026 diễn ra vào cùng tuần lễ mà Trung Quốc chính thức thể chế hóa chương trình phát triển đảo bao trùm toàn bộ các thực thể mà nước này yêu sách ở Biển Đông. Sự đứt gãy giữa lộ trình ngoại giao của ASEAN và nhịp độ củng cố trên thực địa của Trung Quốc đặt ra câu hỏi trung tâm: liệu một COC không có tính ràng buộc pháp lý hoặc được thực thi yếu kém thực sự có thể kiềm chế được điều gì?
6. Những văn kiện về chiến lược quốc phòng, an ninh hàng hải được Đức, Úc và Ấn Độ công bố trong vòng 1 tuần, cùng một loạt kế hoạch quân sự của Hoa Kỳ ở khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương đang định hướng lại thiết kế lực lượng theo hướng chống tiếp cận phân tán. Đây là một quá trình chuyển đổi mà tác động đối với cân bằng lực lượng tại Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương sẽ hiện hữu rõ ràng vào cuối thập kỷ này. Tuy nhiên, điều này cũng đặt ra câu hỏi về một đối trọng hiệu quả đối với Bắc Kinh trong ngắn hạn.
—
MỤC LỤC
I. BIỂN ĐÔNG
I.1. Các hoạt động vùng xám và hành vi cưỡng ép của Trung Quốc
I.2. Các động thái mở rộng lãnh thổ và quân sự của Trung Quốc
I.3. Phản ứng của Philippines
I.4. Phản ứng của Việt Nam
I.5. Các cuộc tập trận quân sự đa phương và hoạt động liên minh
I.6. Ngoại giao, đàm phán COC và định vị của ASEAN
I.7. Hợp tác hàng hải khu vực và xây dựng năng lực
II. Đài Loan và Eo biển Đài Loan
II.1. Áp lực không-hải dai dẳng của Trung Quốc
II.2. Thế trận phòng thủ và phản ứng của Đài Loan
III. Biển Hoa Đông và Đông Bắc Á
III.1 Hoạt động của Hải cảnh và tàu khảo sát Trung Quốc
III.2. Phản ứng và giám sát của Nhật Bản
IV. NHỮNG DIỄN BIẾN CHIẾN LƯỢC LIÊN KHU VỰC
IV.1 Khủng hoảng hàng hải Trung Đông và các yết hầu toàn cầu
IV.2 Triển khai lực lượng chiến lược và tập trận song phương
IV.3 Hệ thống Dưới mặt nước và Hệ thống Không người lái
IV.2. Các diễn đàn quốc phòng, liên minh, đối tác và chính sách
Tải toàn văn Chuyển Động Biển Mở Số 6 ở đây.
Chính sách tiếp cận báo cáo và dữ liệu chuyên sâu của Dự Án Đại Sự Ký Biển Đông
Nguyên tắc hoạt động của Dự án Đại Sự Ký Biển Đông.
—————
Dự án Đại Sự Ký Biển Đông tồn tại dựa trên tài trợ của cộng đồng. Nếu quý độc giả muốn có một nguồn thông tin tri thức khách quan, đa chiều dựa trên chiều sâu chuyên môn và dữ liệu có hệ thống, Dự án Đại Sự Ký Biển Đông là một địa chỉ mà mọi người có thể tin tưởng. Hãy chung tay cùng với chúng tôi duy trì Dự án bằng cách tài trợ cho Dự án, và khuyến khích bạn bè, đồng nghiệp cùng tài trợ Dự án. Xem hướng dẫn tài trợ ở đây: https://dskbd.org/tai-tro-cho-du-an/. Báo cáo tài chính sẽ được tổng kết vào cuối mỗi hai năm. Chúng tôi xin trân trọng cảm ơn.
