Hết Rồi “Ngoại Giao Cây Tre”? Việt Nam Ngày Càng Thoải Mái với Trung Quốc

Tác giả: Alexander L. Vuving | ThinkChina ngày 23 tháng 4 năm 2026

Biên dịch: Lê Lam Kiều | Hiệu đính: Alexander L. Vuving

Trong bối cảnh phức tạp của quan hệ Việt – Trung, sự cân bằng giữa tự chủ chiến lược và phụ thuộc kinh tế ngày càng trở nên bấp bênh.

Quan hệ Việt – Trung đang ngày càng trở nên khăng khít, củng cố cho một xu hướng bắt đầu từ năm 2024. Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Tô Lâm đã thăm Trung Quốc ngày 14 tháng 4 trong chuyến công du nước ngoài đầu tiên sau khi nhậm chức chủ tịch nước lần thứ hai vào ngày 7 tháng 4.

Việt Nam như cây tre lay động trước những cơn gió trái chiều. Những điểm đến nước ngoài đầu tiên của ông Lâm sau khi tái đắc cử nhiệm kỳ tổng bí thư thứ hai vào tháng Giêng là Lào và Campuchia, và ông cũng tham dự cuộc họp khai mạc Hội đồng Hòa bình của Tổng thống Mỹ Donald Trump vào tháng Hai. Nhưng Hà Nội đang dỡ bỏ một số hàng rào (guardrails) mà họ đã dựng lên để bảo vệ chính sách “ngoại giao cây tre”, đặc biệt là trong quan hệ với Bắc Kinh. Cục diện “tre không lũy chắn” (fenceless bamboo) này sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến an ninh và khả năng tự chủ của Việt Nam trong tương lai.

Nghiêng về sự áp đảo của Trung Quốc

Cốt lõi của quan hệ Trung Quốc – Việt Nam là sự xung đột giữa lợi ích cơ bản của một cường quốc và lợi ích cơ bản của một quốc gia tiền tuyến trong cuộc cạnh tranh giữa các cường quốc. Một mối quan hệ mà đôi bên cùng có lợi chỉ khả thi nếu cả hai nước đều cam kết duy trì tính trung lập của Việt Nam giữa Trung Quốc và một cường quốc đối thủ.

Rút kinh nghiệm từ cuộc chiến với Trung Quốc trong các thập niên 1970 và 1980, Việt Nam đã cam kết không đứng về phe nào trong cuộc cạnh tranh giữa các cường quốc. Để cân bằng việc xích lại gần hơn với Mỹ gần đây, và đồng thời để theo đuổi giấc mơ kinh tế của mình, Việt Nam đã tiếp tục nhượng bộ Trung Quốc theo cách làm Việt Nam dễ bị tổn thương hơn trước Bắc Kinh. Do Trung Quốc đang tìm cách kéo Việt Nam lại gần quỹ đạo của mình hơn, tình hình có khả năng nghiêng về phía sự thống trị của Trung Quốc hơn là một kết cục cùng thắng cho cả đôi bên.

Việt Nam và Trung Quốc tự hào có một trong những mối quan hệ lâu đời nhất trên thế giới. Nếu lịch sử hàng nghìn năm của mối quan hệ giữa hai nước có bất kỳ hằng số nào, thì đó là sự thật kép: Trung Quốc luôn là một cường quốc và Việt Nam luôn nằm ở biên thuỳ phía nam của Trung Quốc. Những hằng số lịch sử này định hình lợi ích cốt lõi của Trung Quốc trong quan hệ với Việt Nam: giữ biên thuỳ phía nam trong tầm ảnh hưởng của Trung Quốc.

Trong nhiều thế kỷ, số phận của các quốc gia sinh sống trên vùng đất nay là Việt Nam phụ thuộc vào khả năng tận dụng vị thế của họ trên vùng biên cương của đế chế Trung Hoa sôi động. Tuy nhiên, sự xuất hiện của các cường quốc khác từ châu Âu, Nhật Bản và Mỹ kể từ thế kỷ 16 đã làm biến đổi phương trình này. Việt Nam trở thành một phần thưởng trong cuộc cạnh tranh giữa các cường quốc, điều mang đến cho người Việt Nam nhiều lựa chọn hơn và những động lực mạnh để lợi dụng sự cạnh tranh giữa các cường quốc, để nghiêng ngả giữa các bên hoặc đứng về phía bên nào ủng hộ họ nhất.

Theo đuổi chính sách trung lập trong học thuyết đối ngoại của Việt Nam

Hà Nội đã khá điêu luyện trong nghệ thuật chèo lái sự chia rẽ Trung-Xô để giành được sự ủng hộ của cả Trung Quốc và Liên Xô chống lại Mỹ trong Chiến tranh Việt Nam. Tuy nhiên, sau chiến tranh, những nỗ lực chống lại áp lực chọn phe từ Bắc Kinh và Moskva lại dẫn đến sự bực bội của cả hai cường quốc.

Không thể giữ thái độ trung lập giữa Trung Quốc, Liên Xô và Mỹ — trong khi phải đối mặt với các cuộc tấn công thảm sát của Khmer Đỏ từ Campuchia và một cuộc khủng hoảng kinh tế đang rình rập trong nước — Việt Nam chính thức gia nhập khối Xô Viết năm 1978. Năm 1979, Trung Quốc xâm lược Việt Nam để “dạy cho Hà Nội một bài học” sau khi Hà Nội đưa quân vào Campuchia để lật đổ chế độ Khmer Đỏ. Trớ trêu thay, các đảng cầm quyền ở cả ba quốc gia này đều có cùng tên gọi là “Đảng Cộng sản” và cùng hệ tư tưởng là chủ nghĩa Marx-Lenin.

Nếu cuộc xâm lược của Trung Quốc năm 1979 không dạy cho Việt Nam một bài học, thì thập kỷ tiếp theo đã làm được điều đó. Sau Chiến tranh Lạnh, Việt Nam đã đưa ba điều “không” vào học thuyết đối ngoại của mình, và đến cuối những năm 2010, chúng được mở rộng thành “bốn không”. Theo học thuyết này, Việt Nam sẽ không tham gia bất kỳ liên minh quân sự nào, không đứng về phía nước này chống lại nước khác, không cho phép nước ngoài đặt căn cứ quân sự trên lãnh thổ của mình, và không sử dụng vũ lực hay đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế. Sau khi chiến tranh Ukraina bùng nổ, chính sách “bốn không” này đã được nâng lên thành “phương châm chỉ đạo” trong chiến lược bảo vệ Tổ quốc của Việt Nam.

Từ thận trọng chiến lược đến tham vọng kinh tế: Sự xoay trục của Việt Nam trong chính sách với Trung Quốc

Trong khi vẫn kiên định chính sách “bốn không”, Việt Nam tìm cách xích lại gần hơn với tất cả các cường quốc. Ý tưởng này được gói gọn trong hình ảnh “ngoại giao cây tre” mà cố Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng đã phổ biến. Dưới sự lãnh đạo của ông Trọng, Việt Nam và Mỹ đã nâng cấp quan hệ lên “đối tác chiến lược toàn diện” vào tháng 9 năm 2023.

Nhưng “ngoại giao cây tre” đòi hỏi sự cân bằng trong quan hệ với các cường quốc. Do đó, chỉ ba tháng sau khi Mỹ và Việt Nam trở thành đối tác chiến lược toàn diện, Việt Nam đã chấm dứt sự cự tuyệt từ nhiều năm qua đối với yêu cầu của Bắc Kinh về việc gia nhập “cộng đồng chung vận mệnh” của Trung Quốc và trở thành quốc gia thứ tám trong ASEAN tham gia cộng đồng này. Thỏa thuận này không chỉ là lời nói suông. Chỉ một thời gian ngắn sau đó, xu hướng này đã phá vỡ một khuôn mẫu được hình thành sau cuộc khủng hoảng giàn khoan năm 2014, khi Trung Quốc đơn phương triển khai giàn khoan khổng lồ HYSY-981 bên trong vùng mà Việt Nam coi là vùng đặc quyền kinh tế hợp pháp của mình.

Từ năm 2014 đến năm 2023, Việt Nam theo đuổi chiến dịch chống tham nhũng trong đối nội và áp dụng cách tiếp cận thận trọng đối với Trung Quốc trong chính sách đối ngoại. Do chiến dịch chống tham nhũng và sự ngờ vực phổ biến đối với Trung Quốc, Việt Nam chỉ hứa suông về Sáng kiến ​​Vành đai và Con đường của Trung Quốc và không phê duyệt các dự án lớn do Trung Quốc tài trợ, vốn bị nghi ngờ làm gia tăng không chỉ sự phụ thuộc của Việt Nam vào Trung Quốc mà còn cả tham nhũng.

Nhưng chiến lược tổng thể của Việt Nam đã có bước ngoặt vào năm 2024. Kế nhiệm ông Trọng làm Tổng Bí thư Đảng Cộng sản, Tô Lâm tuyên bố một “kỷ nguyên mới”, trong đó nền kinh tế được kỳ vọng sẽ tăng trưởng hai chữ số hàng năm. Thay thế tư duy “ưu tiên chống tham nhũng” của thập kỷ trước, thái độ “ưu tiên tăng trưởng kinh tế” này đã có tác động to lớn đến chính sách của Việt Nam đối với Trung Quốc.

Trong chuyến thăm Trung Quốc của Tô Lâm vào tháng 8 năm 2024, Việt Nam cam kết đẩy nhanh tiến độ xây dựng các tuyến đường sắt chính nối biên giới Trung Quốc với cảng Hải Phòng của Việt Nam — những dự án mà Tuyên bố chung Việt Nam – Trung Quốc được đưa ra trong chuyến thăm Việt Nam của Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình vào tháng 12 năm 2023 chỉ hứa hẹn ở mức độ “nghiên cứu”. Tháng 2 năm 2025, Hà Nội đã phê duyệt khoản vay 8,3 tỷ USD từ Trung Quốc cho một trong những tuyến đường sắt này.

Cũng trong năm 2025, Việt Nam không còn là một trong bốn nước châu Á — ba quốc gia còn lại là Ấn Độ, Nhật Bản và Đài Loan — loại trừ thiết bị của Trung Quốc khỏi mạng 5G của mình khi các nhà mạng viễn thông lớn của Việt Nam đã ký kết, hoặc đang đàm phán ký kết, các hợp đồng cung cấp thiết bị 5G với Huawei và ZTE của Trung Quốc.

Quan hệ gần gũi hơn với Trung Quốc có thể làm suy yếu khả năng tự chủ của Việt Nam như thế nào?

Những lo ngại về an ninh đã là động cơ chính đằng sau sự cự tuyệt của Việt Nam đối với các dự án đường sắt và thiết bị 5G của Trung Quốc. Giờ đây, nhu cầu cân bằng mối quan hệ giữa các cường quốc đối địch và thúc đẩy mạnh mẽ nền kinh tế dường như đã lấn át những lo ngại về an ninh quốc gia.

Nhưng Việt Nam đã “học quá kỹ” bài học lịch sử và bù đắp quá mức cho chính sách đối ngoại độc lập của mình. Trong khi cam kết giữ lập trường trung dung giữa các cường quốc kình nhau, Việt Nam vẫn có thể nghiêm túc chuẩn bị cho khả năng xảy ra xung đột vũ trang với Trung Quốc để bảo vệ độc lập tự chủ của mình. Sự chuẩn bị đó phải bao gồm, bên cạnh các biện pháp khác, việc giảm thiểu khả năng Việt Nam bị Trung Quốc lợi dụng, để chứng tỏ cho Trung Quốc rằng những nỗ lực của họ nhằm giữ Việt Nam dưới cái bóng của mình sẽ chỉ vô ích.

Tuy nhiên, sự nhượng bộ gần đây của Hà Nội đối với Bắc Kinh đã làm suy yếu sự chuẩn bị đó. Tuyến đường sắt có khả năng làm gia tăng cả vị thế dẫn đầu của Trung Quốc trong ngoại thương của Việt Nam lẫn thâm hụt thương mại của Việt Nam với Trung Quốc. Chúng cũng sẽ khuyến khích Bắc Kinh giữ Hà Nội chặt hơn trong quỹ đạo ảnh hưởng của mình. Thiết bị 5G của Trung Quốc sẽ giúp họ gia tăng khả năng kiểm soát mạng internet của Việt Nam.

Tất cả những kết nối này sẽ khiến Việt Nam dễ bị tổn thương hơn trước Trung Quốc và trở thành điểm yếu của Việt Nam trong các giao dịch với Trung Quốc. Trong khi chúng tạo thêm lý do để Việt Nam tránh xung đột với Trung Quốc, chúng lại khuyến khích Trung Quốc tối đa hóa các yêu sách của mình. Vì Trung Quốc rất muốn kéo Việt Nam về phía mình, tình hình này sẽ làm sâu sắc thêm sự phụ thuộc của Việt Nam vào Trung Quốc. Nếu không được đảo ngược, xu hướng này sẽ vô hiệu hóa những nỗ lực của Việt Nam trong việc duy trì khả năng “tự chủ chiến lược” của mình và dẫn đến ảnh hưởng áp đảo của Bắc Kinh đối với Hà Nội.

Tiến sĩ Alexander L. Vuving là giáo sư tại Trung tâm Nghiên cứu An ninh Châu Á–Thái Bình Dương Daniel K. Inouye ở Honolulu, Hoa Kỳ. Các nghiên cứu của ông tập trung vào sự tiến hóa của chính trị cường quốc, sự trỗi dậy của Trung Quốc, hành vi nhà nước, quyền lực mềm, sự học hỏi từ lịch sử, chính trị và chính sách đối ngoại của Việt Nam, cũng như vấn đề Biển Đông. Ông là thành viên ban biên tập của các tạp chí Asian Politics & Policy và Global Discourse. Các quan điểm trong bài viết này là của cá nhân tác giả và không nhất thiết phản ánh quan điểm của DKI APCSS, Bộ Chiến tranh Hoa Kỳ hoặc Chính phủ Hoa Kỳ.

Lê Lam Kiều là cộng tác viên Dự án Đại Sự Ký Biển Đông.

Nguyên tắc hoạt động của Dự án Đại Sự Ký Biển Đông.

—————

Dự án Đại Sự Ký Biển Đông tồn tại dựa trên tài trợ của cộng đồng. Nếu quý độc giả muốn có một nguồn thông tin tri thức khách quan, đa chiều dựa trên chiều sâu chuyên môn và dữ liệu có hệ thống, Dự án Đại Sự Ký Biển Đông là một địa chỉ mà mọi người có thể tin tưởng. Hãy chung tay cùng với chúng tôi duy trì Dự án bằng cách tài trợ cho Dự án, và khuyến khích bạn bè, đồng nghiệp cùng tài trợ Dự án. Xem hướng dẫn tài trợ ở đây: https://dskbd.org/tai-tro-cho-du-an/. Báo cáo tài chính sẽ được tổng kết vào cuối năm. Chúng tôi xin trân trọng cảm ơn.

Leave a comment

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.