David Brown: Chuyến Công Du Nhạy Cảm Của Thủ Tướng Việt Nam Tới Washington

Tác giả: David Brown | The Asia Sentinel ngày 6/5/2022

Biên dịch: Đoàn Thị Hằng Ni

Thủ tướng Phạm Minh Chính và Phó Tổng thống Mỹ Kamala Harris ở Hà Nội hôm 24/8/2021. Ông Chính sẽ bắt đầu chuyến công du Mỹ 7 ngày trong tuần này để tham dự Thượng đỉnh Hoa Kỳ-ASEAN cũng như thăm và làm việc tại LHQ ở New York. Đây được coi là thử thách đối ngoại lớn nhất của ông Chính. Ảnh: Báo Chính phủ.

Thủ tướng Phạm Minh Chính sẽ dẫn đầu đoàn quan chức cấp cao Việt Nam tới Washington vào tuần tới. Những hậu quả của cuộc xâm lược Ukraine của Nga rất có thể sẽ chi phối các cuộc tham vấn song phương với các đối tác của Mỹ trước thềm “Hội nghị thượng đỉnh đặc biệt Asean” của Tổng thống Joe Biden  trong hai ngày 12-13/5/2022.

Cuộc chiến của Putin đã làm lung lay giả định cơ bản về thế trận quốc phòng của Việt Nam: rằng Nga sẽ vẫn là nhà cung cấp đáng tin cậy các hệ thống vũ khí mà nước này cần nhằm ngăn chặn sự xâm lược của Trung Quốc. Điều này đã gây thiệt hại nghiêm trọng cho mối quan hệ đôi bên cùng có lợi của Nga với Việt Nam.

Đó là mối ràng buộc có từ thời Liên Xô viện trợ cho chế độ Cộng sản Hà Nội khi họ chiến đấu để bảo vệ nền độc lập của Việt Nam và sau đó là thống nhất đất nước dưới sự cai trị của chế độ Cộng sản. Ở Hà Nội, Nga vẫn được vinh danh là nhà điều phối viện trợ kinh tế hào phóng trong thập kỷ sau chiến tranh khi Việt Nam vật lộn để xây dựng nền kinh tế tự chủ theo kiểu Liên Xô. Giờ đây đã trôi qua vài thập kỷ: sau khi thành công đổi tên nền kinh tế Việt Nam thành “Chủ nghĩa xã hội thị trường” nhưng cảnh giác với tham vọng của Trung Quốc, các nhà lãnh đạo quốc gia đã chọn dựa vào Moscow để có các hệ thống vũ khí công nghệ cao tương đối rẻ, bao gồm tàu khu trục nhỏ, máy bay chiến đấu-ném bom, tàu ngầm tấn công, và tên lửa phòng thủ bờ biển.

“Giấc mơ Trung Hoa” của Tập Cận Bình là cơn ác mộng của Việt Nam, một mối đe dọa mà Hà Nội đã quản lý bằng cách xây dựng năng lực răn đe, thể hiện sự tôn kính và nhấn mạnh lợi ích kinh tế chung. Đó là một chiến lược cổ xưa mà chiến lược đó đã chứng tỏ hiệu quả khi Trung Quốc hành động phô trương, và một loạt chính sách cho phép Việt Nam cận đại  duy trì mối quan hệ mang tính xây dựng khiêm tốn với nước láng giềng khổng lồ.

Tuy nhiên, giờ đây, Hà Nội không còn yên tâm về việc có trong tay hệ thống vũ khí được chế tạo tại Nga. Trong tương lai gần, Việt Nam gần như không thể mua vũ khí từ Moscow mà không kích hoạt cái gọi là ‘lệnh trừng phạt thứ cấp’. Hà Nội dường như đã hiểu ra điều đó. Ông Chính đã đồng ý vào ngày 30/4 với Fumio Kishida, Thủ tướng mới của Nhật Bản, rằng “ở bất kỳ khu vực nào, việc thay đổi hiện trạng bằng vũ lực là hoàn toàn không thể chấp nhận được”.

Ông Chính và các đồng nghiệp của ông phải rất cẩn trọng tại Washington. Sự chú ý đang được tập trung vào cuộc khủng hoảng Ukraine. Nhiều người trong số những người đang chỉ đạo cuộc đối đầu uỷ nhiệm với Nga thiếu sự đánh giá tinh tế về lợi ích của Mỹ ở Châu Á – Thái Bình Dương. Trong việc ủng hộ Ukraine, Việt Nam (mặc dù vì những lý do chính đáng của mình) đã lạc hậu so với các nước bạn bè còn lại của Mỹ, và điều đó không phù hợp với nhóm coi Châu Âu là trung tâm trong việc thiết lập chính sách đối ngoại của Mỹ.

Việc Thủ tướng Việt Nam có mặt tại Washington có thể dẫn đến bình luận tiêu cực. Những nhà ngoại giao gay gắt có thể hỏi rằng tại sao Mỹ không trừng phạt Hà Nội về việc mua các hệ thống vũ khí của Nga và chê bai việc Hà Nội không tham gia bỏ phiếu lên án cuộc chiến của Putin tại Liên Hợp Quốc. 

Ông Chính được xem là có khả năng trở thành người kế vị cho người đi trước của mình, ông Nguyễn Phú Trọng, bất cứ khi nào người đứng đầu Đảng Cộng sản 78 tuổi quyết định nghỉ hưu hoặc có thể, một cơn đột quỵ khác khiến ông Trọng không thể tiếp tục công việc. Các cuộc gặp ở Washington là thử thách đối ngoại lớn nhất của ông Chính cho đến nay; các đồng nghiệp và đối thủ của ông ấy sẽ chăm chú theo dõi.

“Cẩn trọng khi làm điều gì đó” khác với không nói gì. Ông Chính sẽ rất khôn ngoan nếu bày tỏ thiện cảm thực sự với Ukraine và thất vọng rằng Nga, một người bạn đáng tin cậy trong lịch sử đối với chế độ Hà Nội, đã “đi chệch hướng”. Ông nên xác nhận một cách thẳng thắn và dứt khoát rằng Việt Nam đã dựa vào các hệ thống vũ khí mua từ Moscow để bảo vệ lợi ích của mình trước những phần tử liều lĩnh ở Bắc Kinh. Ông có thể nói đó là vấn đề mà ông hy vọng rằng Mỹ có thể giúp giải quyết.

Chính quyền Biden tự hào về “chủ nghĩa hiện thực thực dụng”, nhưng những nhà ngoại giao Mỹ dường như bị ám ảnh bởi sự giả vờ không chọn phe lâu nay của Việt Nam. Bất chấp hợp tác song phương ngày càng sâu rộng và ngày càng gia tăng nhằm mục đích làm giảm bớt tham vọng của Bắc Kinh ở Biển Đông, họ đã thúc ép Hà Nội nâng cấp mối quan hệ song phương với Mỹ. Họ nói rằng mối quan hệ phải là ‘chiến lược’, không chỉ là ‘toàn diện.’

Giả sử Bộ Chính trị Việt Nam đã xử lý được những hệ lụy từ cuộc chiến của Putin đối với Ukraine, thì một tuyên bố chung rằng Việt Nam và Hoa Kỳ từ nay trở thành ‘đối tác chiến lược’ sẽ là một điều dễ dàng Hà Nội mang tới cho Mỹ.

Rất có thể Tổng thống Biden và những nhà ngoại giao khác sẽ thúc giục Việt Nam ngừng mua sắm vũ khí do Nga cung cấp và bảo dưỡng. Đáp lại, ông Chính có thể chỉ ra điều hiển nhiên: nếu Washington muốn Hà Nội loại bỏ vũ khí của Nga, thì nước này nên giúp Việt Nam tìm kiếm và tài trợ các giải pháp nhằm tăng cường năng lực bảo vệ lãnh thổ và chủ quyền, như họ đã làm cho Ukraine.

Ấn Độ cũng phụ thuộc đáng kể vào các hệ thống vũ khí mua từ Nga. Có lẽ Mỹ có thể thúc đẩy hợp tác ba bên nhằm đáp ứng nhu cầu bảo trì và giúp cả Việt Nam và Ấn Độ xác định và vượt qua các thách thức mua sắm quốc phòng trong tương lai.

Nếu Washington và Hà Nội đồng ý gọi mối quan hệ của họ là chiến lược cũng như toàn diện, thì cả hai đều có trách nhiệm phải hành động phù hợp ở tất cả các lĩnh vực. Việt Nam vẫn là một trong 11 quốc gia được Mỹ coi là ” nền kinh tế phi thị trường. “

Chiếc nhãn này chỉ đúng ở một phần tư thế kỷ trước nhưng bây giờ thì thật vô lý; Việt Nam được rút khỏi khỏi danh sách đó.

Về phía Việt Nam, có một khiếu nại thương mại mà họ phải điều tra khẩn cấp, đó là về các tấm pin năng lượng mặt trời được cho là sản xuất tại Trung Quốc và sau khi làm cho chúng tinh tế một chút ở Việt Nam hoặc các khu vực khác của Đông Nam Á, đã được xuất khẩu sang Mỹ. Nếu đúng – và nó có vẻ đúng – các quốc gia đã cho phép hình thức thông đồng đó có nguy cơ bị trừng phạt nặng nề. Ở đây ông Chính một lần nữa nên sẵn sàng với các dữ kiện. Nếu thực sự các nhà xuất khẩu của Việt Nam nằm trong số các địa chỉ tiếp tay cho việc che giấu nguồn gốc các vật liệu do Trung Quốc sản xuất, thì Việt Nam nên nhanh chóng đóng cửa các nhà xuất khẩu này.

David Brown là một cán bộ ngoại giao Hoa Kỳ đã nghỉ hưu nhiều năm. Nguồn bản gốc: https://www.asiasentinel.com/p/viet-premier-pilgrimage-washington.

Đoàn Thị Hằng Ni là cộng tác viên phụ trách khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương của Dự án Đại Sự Ký Biển Đông. Các ấn phẩm đăng tải ở Dự án Đại Sự Ký Biển Đông không nhất thiết thể hiện quan điểm của các thành viên và cộng tác viên, hay các nhà tài trợ Dự án Đại Sự Ký Biển Đông

—————

Dự án Đại Sự Ký Biển Đông đang nỗ lực duy trì tri thức mở, độc lập và phi chính trị. Mỗi sản phẩm của Dự án đều được thực hiện với thái độ nghiêm túc, khoa học dù trong giới hạn thời gian cá nhân của các thành viên và cộng tác viên Dự án. Nếu độc giả thấy sản phẩm của Dự án Đại Sự Ký Biển Đông hữu ích, hãy chung tay với Dự án để Dự án có thể duy trì hoạt động. Xem hướng dẫn tài trợ ở đây: https://dskbd.org/tai-tro-cho-du-an/. Báo cáo tài chính sẽ được tổng kết vào cuối năm. Chúng tôi xin trân trọng cảm ơn.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.