Cuộc Chiến Tranh Ở Ukraine Sẽ Làm Thay Đổi Địa Chính Trị Một Cách Sâu Sắc

The Economist ngày 5/3/2022

Biên dịch: Hoàng Cẩm Thanh

Nữ nhà báo Nga phản đối chiến tranh trên truyền hình quốc gia Nga

Một vài điều trông có vẻ quen thuộc, một số khác sẽ chưa từng có tiền lệ.

Thứ sáu ngày 25 tháng 2 – ngay sau khi Nga bắt đầu xâm lược Ukraine, tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky đã tuyên bố: “Sáng nay, chúng tôi đơn độc bảo vệ đất nước…và đây là cuộc chiến chống lại châu Âu.” Tuy vậy, lực lượng duy nhất của Châu Âu lúc này lại chỉ là Ukraine.

Phần còn lại của Châu Âu cảm thấy xấu hổ. Trong suốt cuối tuần qua, hành động xâm lược của Putin làm kinh hoàng cả lục địa. Châu Âu được truyền cảm hứng từ sự dũng cảm của những binh lính Ukraine, được thúc đẩy bởi các cuộc biểu tình chống chiến tranh trên đường phố và cảm động trước những lời nói và hành động của tổng thống Zelensky, lục địa này đã có những bước đi mà những ngày trước đó dường như không thể tưởng tượng được.

Liên minh Châu Âu, được khai sinh từ ý tưởng cho rằng hội nhập kinh tế có thể chặn đứng chiến tranh, đã hứa sẽ chi trả cho lực lượng quân sự được gửi đến Ukraine. Thụy Sĩ – quốc gia trung lập – hứa sẽ có những biện pháp trừng phạt nhắm đến các thực thể mà nước này rất coi trọng: đó là các ngân hàng. Ở Đức, liên minh mới gồm những người dân chủ xã hội, chính trị xanh và tự do đã trút bỏ chiếc áo choàng hòa bình của đất nước; nếu trước đây chỉ hứa hẹn cho Ukraine sự ủng hộ thì giờ đây họ đang gấp rút gửi vũ khí chống tăng và phòng không. Đồng thời, Đức tuyên bố tăng cường mạnh mẽ trong lĩnh vực chi tiêu quốc phòng. Mới đây, Đức cũng thông báo đình chỉ Nord Strream 2, dự án vốn ràng buộc chặt chẽ Đức với Nga và chỉ dành riêng cho nguồn cung khí đốt từ Nga. Chính phủ Đức thậm chí còn cho biết họ đã hình dung việc duy trì các nhà máy điện hạt nhân còn lại của nước này hoạt động và nếu làm điều này có thể chứng tỏ được sự giảm phụ thuộc của Đức vào khí đốt của Nga.

Ở đầu kia của lục địa Âu-Á, Nhật Bản, Singapore, Hàn Quốc và Đài Loan và Úc đã tham gia vào các lệnh trừng phạt chống lại Nga. Sự thay đổi tâm trạng ở Nhật Bản đặc biệt đáng lưu tâm. Trong nhiều thập kỷ qua, nước này với nỗ lực không mệt mỏi đã lôi kéo Nga , một phần để đối trọng với Trung Quốc và cũng với hy vọng giải quyết vấn đề bốn hòn đảo phía bắc bị Liên Xô chiếm giữ. Cựu thủ tướng Nhật Abe Shinzo đã gặp Putin 27 lần, thậm chí có cả một chuyến đến nhà tắm onsen. Dưới thời Kishida Fumio, Nhật Bản hiện đã phong tỏa phần dự trữ của ngân hàng trung ương Nga và kêu gọi những người trung lập có lập trường rõ ràng hơn chống lại người bạn trước đây. Sự kết thúc của Chiến tranh Lạnh chưa bao giờ mở ra thời kỳ hòa bình vĩnh cửu. Nhưng cuộc khủng hoảng Ukraine đang tạo ra một hình thức mới cho xung đột trong tương lai và cách thức ngăn chặn chúng. Cuộc khủng hoảng này cũng làm tăng các khả năng một vùng đất sẽ bị tước đoạt khỏi một quốc gia phát triển bằng vũ lực. Bằng cách mang Nga và Trung Quốc xích lại gần nhau hơn, xung đột này tạo ra gánh nặng mới cho hệ thống những nước đồng minh của Mỹ – vốn một phần bao vây hai nước này. Xung đột này cũng củng cố niềm tin của Châu Âu vào chính mình và lý tưởng của mình và có thể tăng cường  khả năng sẵn sàng chiến đấu vì chúng; đồng thời cũng có thể chứng kiến ​​Đức và Nhật Bản đảm nhận những vai trò quân sự mới, sau thất bại của họ trong Chiến tranh Thế giới Thứ Hai. Bên cạnh đó, xung đột đang đặt ra những câu hỏi cũ lẫn mới về vai trò của vũ khí hạt nhân.

Chưa ai đặt được tên cho thời kỳ hậu của hậu Chiến tranh Lạnh mới này. Tuy nhiên, trong quá trình tìm kiếm những điểm tương đồng, những bóng ma của chủ nghĩa Quốc xã tiếp tục quay trở lại. Putin gợi lại nỗi kinh hoàng của Chiến tranh Thế giới Thứ hai khi Putin luôn ngoan cố vu cáo Zelensky, một người Do Thái, điều hành một nhà nước “Đức Quốc xã”. Và cái giá cho điều này là  – chủ nghĩa đòi phục hồi lãnh thổ đầy bạo lực của Putin – cuộc chiến ở Gruzia năm 2008, cuộc chiến ở miền đông Ukraine năm 2014, sự sáp nhập thành công Belarus – tất cả sự kiện này gợi nhớ nhiều hơn đến Hitler. Sự giống nhau này đã khiến  Zelensky và những người khác nói về thái độ mập mờ của phương Tây đối với ông giống chính sách xoa dịu (trước các cường quốc hung hãn trong Chiến tranh Thế giới thứ Hai)

Một quan chức cấp cao của Nhà Trắng phát biểu vào ngày đầu tiên của cuộc xâm lược:“Chúng tôi chưa bao giờ nghĩ rằng mình sẽ thức dậy như thể vào năm 1939.” Nhưng một vài điểm tương tự đáng ngại giống như trong quá khứ của năm 1945: các quan chức Mỹ lo lắng về tình trạng tâm trí của nhà lãnh đạo Nga, người bị cô lập, mất liên lạc và dễ tính toán sai lầm; việc sử dụng vũ khí hạt nhân đã trở nên có thể xảy ra.

Nhìn mọi thứ qua lăng kính trong Chiến tranh Thế giới thứ Hai khiến ý tưởng về một trục trở nên tự nhiên – và có lẽ hữu ích hơn việc gọi tên các nước với nhau. Quan điểm của Tổng thống Joe Biden về một cuộc cạnh tranh toàn cầu nhằm thúc đẩy các nền dân chủ chống lại các chế độ chuyên quyền khiến Nga và Trung Quốc bị xếp vào nhóm này. Không còn nghi ngờ gì nữa, hai nước đã xích lại gần nhau hơn cả về mặt chiến lược và khi Putin đẩy Nga sâu hơn vào chế độ độc tài chính trị. Putin và chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình, có chung mong muốn hạ gục Mỹ với tư cách là nhà lãnh đạo toàn cầu cũng như ám ảnh về những gì đã xảy ra với Liên Xô vào năm 1991.

Jude Blanchette thuộc Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS) nhận định mặc dù hai nhà lãnh đạo không phải là đồng minh chính thức nhưng họ vẫn hữu ích đối với nhau về mặt quân sự. Mối quan hệ của họ được khuyến khích bởi địa lý; hai nước “lưng dựa lưng” nhau nghĩa là hai bên không phải lo lắng về biên giới chung mỗi khi triển khai sức mạnh hướng ra ngoài. Việc Nga chuyển một số lượng lớn quân đội từ vùng viễn đông sang Ukraine có thể còn tồi tệ hơn nhiều nếu nước này còn phải lo lắng thêm về ý định của Trung Quốc.

Xoay trục phiên bản gốc

Để cố gắng tìm hiểu trục mới này, một số nhà nghiên cứu nhận thấy mình quay sang quan điểm của các chiến lược gia cũ, đặc biệt là những quan điểm về điều kiện địa lý hơn là những sự kiện ngẫu nhiên của lịch sử. Điểm khởi đầu hiển nhiên, cho câu hỏi này và cho lịch sử hiện đại của địa chính trị nói chung, là ý tưởng “vùng đất trung tâm” (Heartland) do Halford Mackinder đưa ra vào năm 1904. Mackinder lập luận rằng bất cứ ai kiểm soát phần lõi của Âu-Á, khoảng giữa Biển Bắc Cực và Himalayas, có thể chỉ huy thế giới. Theo phân tích đó, Nga và Trung Quốc thống nhất trong căn nguyên chung đại diện cho một vấn đề lớn.

Một câu trả lời cho lý thuyết của Mackinder là không tập trung vào lục địa mà vào các đại dương, lấy cảm hứng từ người cùng thời Alfred Thayer Mahan – Mahan coi việc kiểm soát các tuyến đường biển thương mại là chìa khóa cho sức mạnh toàn cầu. Một quan điểm khác đi theo quan điểm của nhà khoa học chính trị Nicholas Spykman, Spykman lập luận vào năm 1942 rằng trung tâm của Âu-Á không quan trọng, mà là vành đai của nó. Ông cho rằng dải hàng hải trải dài qua Địa Trung Hải, phía nam dãy Himalaya và xuyên Đông Nam Á đến Nhật Bản là chìa khóa. “Ai kiểm soát Rimland (khu vực ngoại vi) sẽ  cai trị Á-Âu.” Ông viết. “Ai cai trị Á-Âu sẽ kiểm soát vận mệnh của thế giới.”

Michael Green  (thuộc trung tâm CSIS) là một trong những người nhìn thấy bài học từ Spykman trong thế giới hiện đại. Các quan chức Mỹ cho rằng mối quan hệ hợp tác giữa Nga và Trung Quốc sẽ cho phép họ hợp nhất các liên minh của họ ở Châu Âu và Châu Á thành một tổng thể mạnh mẽ hơn. Nhưng nhiều nước ở vùng ngoại vi – từ Thổ Nhĩ Kỳ đến Israel, các chế độ quân chủ dầu mỏ ở Vùng Vịnh và một số quốc gia ở Đông Nam Á – đang có mối liên hệ với Nga, dành sự ngưỡng mộ đối với Putin hay điều gì đó hơn thế nữa. Không có gì ngạc nhiên khi Syria đang cổ vũ ông Putin.

Quốc gia trung lập nhất là Ấn Độ khi mà nước này đã bỏ phiếu trắng trong cuộc bỏ phiếu của Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc lên án cuộc xâm lược của Nga vào ngày 2 tháng 3 vừa qua. Nước này đang cố gắng cân bằng mối quan hệ hữu nghị lâu đời với Nga, quốc gia cung cấp hầu hết các thiết bị quân sự, cũng như giữ mối quan hệ đối tác phát triển tốt đẹp với Mỹ. Các nhà ngoại giao Ấn Độ nói rằng mối quan tâm của họ là Trung Quốc – hai nước đã xảy ra chiến tranh biên giới vào năm 1962 và giao tranh liên tục kể từ năm 2020 – và họ không thể rời bỏ Nga. Manjari Chatterjee Miller thuộc Hội đồng Quan hệ Đối ngoại (một tổ chức tư vấn chính sách nhận định: “Ấn Độ đang thi hành chính sách đu dây nhưng với nguy cơ trượt chân rất cao.” 

Điểm mạo hiểm của Ấn Độ liên quan đến việc họ mua tên lửa phòng không S-400 từ Nga trước sự phản đối gay gắt của Mỹ. Nếu các tên lửa sớm được triển khai, Mỹ có thể áp đặt các biện pháp trừng phạt theo luật được gọi là CAATSA. Một số nghị sĩ Quốc hội Mỹ đang thúc giục tổng thống Biden từ bỏ các lệnh trừng phạt để giữ hòa khí với Ấn Độ. Nhưng vào thời điểm khi Mỹ đang tổ chức một chiến dịch toàn cầu nhằm cô lập Nga, thì khó có thể biện minh cho việc từ bỏ các lệnh trừng phạt này đối với một nước không rõ lập trường như Ấn Độ.

Giải pháp thay thế để gia cố vùng vành đai là phá vỡ vùng trung tâm. Nga và Trung Quốc đã rạn vỡ quan hệ trong những năm 1960. Tổng thống Richard Nixon đã khai thác rạn nứt này đúng 50 năm trước với chuyến thăm lịch sử tới Trung Quốc vào đầu năm 1972. Nhưng chia rẽ hai nước này là việc rất khó khăn. Một thành viên của chính quyền nói dường như tới giờ Mỹ mới hiểu được tình bạn sâu đậm giữa Putin và Tập. Ông nói: “Người Trung Quốc và người Nga dành rất nhiều thời gian để nói chuyện với nhau về sự cần thiết phải chống lại những nỗ lực của Hoa Kỳ nhằm chia rẽ họ. “Nó gần giống như một cuộc họp trị liệu theo phương pháp Người nghiện rượu Ẩn danh” (phương pháp này giúp đỡ những người nghiện đạt sự tỉnh táo).

Vùng đất này không phải vùng đất của anh

Với việc Trung Quốc đã chịu áp lực kinh tế từ Mỹ, Tập Cận Bình chắc chắn không hài lòng với sự hỗn loạn mà Putin đang gây ra ở Châu Âu, một trong những thị trường xuất khẩu chính của Trung Quốc. Nhưng Tập Cận Bình phải đối mặt với một tình huống khó xử. Dù không muốn Putin thất bại, nhưng giúp đỡ ông ấy đồng nghĩa với việc bị vạ lây từ những hành động tàn sát của Putin.

Ông Tập cũng phải đang xem xét điều này có ý nghĩa gì đối với các kế hoạch nhắm đền Đài Loan, vùng đất mà Trung Quốc đã chuẩn bị kỹ lưỡng để khẳng định quyền thống trị lịch sử hơn so với Nga làm với Ukraine. Kanehara Nobukatsu, từng là phó cố vấn an ninh quốc gia của Nhật Bản, cho biết: “Nếu Putin có cách của mình, ông Tập cũng sẽ làm như vậy. Nhưng nó có thể không đơn giản như vậy.”

Những khó khăn quân sự mà Nga đang gặp phải có thể khiến Trung Quốc phải suy nghĩ lại về tính khả thi của một cuộc xâm lược qua eo biển Đài Loan. Các quan chức Mỹ hy vọng rằng sự phản đối đang dồn lên Nga và các biện pháp trừng phạt sẽ làm cho những hành động xâm lược tương tự trong lai cần phải xem xét kỹ. Mỹ cũng đang cố gắng đảm bảo rằng Trung Quốc và các đồng minh Châu Á của họ biết rằng Mỹ vẫn đang hướng tới châu Á cũng như Châu Âu. Vài ngày trước khi chiến tranh bùng nổ ở Ukraine, chính quyền Biden đã công bố chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương mới của mình. Để đánh dấu sự kiện này, Ngoại trưởng Antony Blinken đã có các cuộc gặp với các ngoại trưởng Australia, Ấn Độ, Nhật Bản và Hàn Quốc. Khi Mỹ tập hợp các đồng minh của mình, Trung Quốc có thể chọn cách trì hoãn thời gian. Putin hẳn đã cảm thấy thời gian chống lại ông khi nói đến Ukraine: các liên kết của quốc gia nhỏ hơn với phương Tây và thị hiếu dân chủ đang tăng cường ngay cả khi năng lực và nền kinh tế của Nga đình trệ. Các tính toán của ông Tập có vẻ khó khăn hơn. Sức mạnh quân sự của Trung Quốc đang phát triển; nhưng người Đài Loan ý thức về một bản sắc dân tộc riêng biệt cũng vậy.

Khả năng Nga có thể nắm giữ các phần của Ukraine, hoặc Trung Quốc có thể cảm thấy được khuyến khích từ hành động này để cư xử tương tự với Đài Loan, có thể gợi ý rằng kỷ nguyên mới sẽ bớt đặt nặng vấn đề toàn vẹn lãnh thổ hơn chăng? Không nhất thiết như vậy khi hầu hết các quốc gia vẫn tiếp tục giành sự trân trọng lớn cho nguyên tắc này; đa số áp đảo trong Đại hội đồng đã lên án Nga. Như Martin Kimani, đại diện của Kenya tại Liên Hiệp Quốc, đã chỉ ra trong một cuộc tranh luận của Hội đồng Bảo an, nhiều quốc gia, bao gồm cả quốc gia của ông, được tạo ra từ các đế chế sụp đổ trong những biên giới không phải do họ lựa chọn. Nhưng họ tìm cách sống “theo cách không đẩy chúng tôi trở lại các hình thức thống trị và áp bức mới.”

Tuy nhiên, dù dư âm của chiến tranh được cảm nhận trên khắp thế giới, điều này tác động mạnh mẽ nhất ở Châu Âu. Cuộc xâm lược đã làm đảo lộn ý tưởng về một lục địa “là một khối tổng thể, tự do và hòa bình”. Kyiv, từng xa cách một cách đáng kinh ngạc, lại cảm thấy gần gũi đến không ngờ.

Olaf Scholz, Thủ tướng mới của Đức, đã nắm bắt thời điểm này chắc chắn hơn bất cứ ai, đảo ngược cả sự miễn cưỡng của đất nước ông trong việc chi tiền để có các lực lượng vũ trang mạnh lẫn niềm tin rằng việc mua khí đốt của Nga có thể tạo ra một loại liên kết đặc biệt giữa các nước. Constanze Stelzenmüller thuộc Viện Brookings nhận định: “Đức đã nhờ đến Mỹ cho công tác bảo đảm an ninh, phụ thuộc vào Nga về nhu cầu năng lượng và tăng trưởng xuất khẩu hướng sang Trung Quốc”. Với thực tế rằng ông Scholz đến từ đảng đã tiên phong cho xu hướng Ostpolitik từ những thập niên 1970, một cách tiếp cận nhẹ nhàng hơn đối với Liên Xô, thì bước đi trên của ông một sự đảo ngược bất ngờ, đáng chú ý nhưng lại hợp lý hơn. Bà nói: “Chỉ có một nền dân chủ xã hội mới có thể làm được điều này,” bà Stelzenmüller. “Đó là thời khắc Nixon đối với Trung Quốc của Scholz.”

NATO hoan nghênh cam kết mới của Đức. Nếu Ukraine thất thủ và các lực lượng Nga ở lại Belarus vô thời hạn, sườn phía đông của NATO sẽ bị đặt vào tình thế nguy hiểm hơn. Mối quan tâm đặc biệt sẽ là “Khoảng trống Suwalki”, đây là lối đi hẹp – tuyến đường bộ duy nhất giữa ba quốc gia vùng Baltic từng bị Liên Xô chiếm đóng, Lithuania, Estonia và Latvia, và phần còn lại của NATO. Ở phía tây của khoảng trống này là Kaliningrad, một khu dân cư của Nga trên bờ biển Baltic; về phía đông là Belarus. Nếu Nga có thể chiếm lấy đất đai giữa hai lãnh thổ, việc bảo vệ các quốc gia vùng Baltic sẽ trở nên khó khăn hơn rất nhiều.

Năm 2016, NATO bắt đầu triển khai các lực lượng nhỏ đa quốc gia ở các nước Baltic và Ba Lan để một cuộc tấn công của Nga sẽ là một cuộc tấn công vào toàn bộ NATO không chỉ về nguyên tắc mà còn trên thực tế. Những đơn vị đó hiện đã được củng cố, và có thể cần được củng cố thêm. Điều đó nói lên rằng, tiến độ chậm chạp ban đầu của Nga ở Ukraine cũng đang thúc đẩy NATO đánh giá lại khả năng của đối thủ.

Tuy nhiên, điều đáng lo ngại hơn là sức mạnh quân sự thông thường của Nga có thể không phải là điểm mấu chốt. Gần đây nhất vào tháng một, các thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an đã ký một tuyên bố là vũ khí hạt nhân “phải phục vụ mục đích phòng thủ, ngăn chặn hành vi xâm lược và ngăn chặn chiến tranh”. Tuy nhiên, kể từ đó, Putin đã vung thanh kiếm hạt nhân của mình ba lần trong nhiều tuần: trước cuộc xâm lược, Putin đã giám sát một cuộc tập trận hạt nhân; vào ngày xảy ra vụ tấn công, Putin nói bất kỳ ai can thiệp sẽ phải gánh chịu “hậu quả mà bạn chưa từng gặp phải trong lịch sử của bạn”; ba ngày sau, Putin tuyên bố ông đang đặt các lực lượng hạt nhân của mình trong tình trạng báo động cao hơn. Có vẻ như Putin sẽ hành xử theo cách tương tự trong các cuộc xung đột và bế tắc sắp tới. Kanehara nói: “Đây là bài kiểm tra đầu tiên về điều gì sẽ xảy ra nếu một nhà lãnh đạo trong nhóm 5 nước thành viên Hội đồng Bảo an là một kẻ lừa đảo già nua điên rồ với vũ khí hạt nhân.”

Theo một nguồn tin quốc phòng cấp cao của Mỹ, “Những lời hùng hổ về [hạt nhân] kì quặc quá mức so với những gì chúng ta đang thực sự thấy trên thực địa.” Nhưng những lời hùng hổ này là một vấn đề. Nếu phương Tây có vẻ sợ hãi thật thì lời đe dọa hạt nhân sẽ được sử dụng lại. Nếu phương Tây làm điều gì đó đủ cứng rắn để làm rõ rằng họ không bị lời đe dọa này khuất phục thì câu chuyện sẽ khác.”

Tổng thống Biden đã quan tâm đến việc kiểm soát vũ khí kể từ khi ông lần đầu tiên tranh cử vào Thượng viện, cùng năm mà Nixon đến Trung Quốc. Năm ngoái, ông đã gia hạn hiệp ước New Start Treaty, trong đó giới hạn việc triển khai các đầu đạn hạt nhân chiến lược của Mỹ và Nga ở mức 1.550 mỗi đầu đạn hạt nhân. Ông cũng đã cố gắng lôi kéo Trung Quốc vào các cuộc đàm phán kiểm soát vũ khí. Và ông lập luận rằng Mỹ nên chuyển sang học thuyết là: “mục đích duy nhất” của vũ khí hạt nhân là để ngăn chặn các cuộc tấn công hạt nhân.

Một sự thay đổi như vậy bây giờ có vẻ khó xảy ra. Trung Quốc đang nhanh chóng chế tạo đầu đạn hạt nhân. Lầu Năm Góc tính toán tổng số trong “mức thấp 200” vào năm 2020 có thể đạt 1.000 hoặc hơn vào năm 2030. Các đồng minh của Mỹ đã vận động hành lang mạnh mẽ để Mỹ duy trì “khả năng răn đe mở rộng”, điều này mở đường cho việc sử dụng vũ khí hạt nhân chống lại các lực lượng quân sự thường quy có sức mạnh lớn. Các mối đe dọa từ Nga khẳng định mạnh mẽ lập luận này. Ông Abe nói rằng Nhật Bản nên nghĩ đến việc sở hữu vũ khí hạt nhân của Mỹ, giống như Đức. Đây sẽ là một sự thay đổi lớn so với “ba nguyên tắc phi hạt nhân hóa” lâu đời của Nhật Bản: không chế tạo vũ khí hạt nhân, không sở hữu vũ khí hạt nhân và không cho phép đồn trú vũ khí hạt nhân ở nước này.

Giống như hầu hết các vấn đề địa chính trị mới, ảnh hưởng đối với chiến lược hạt nhân trên toàn thế giới ở một mức độ nào đó sẽ phụ thuộc vào những gì diễn ra ở Ukraine. James Acton của Carnegie Endowment for International Peace nhận định: “Nếu lời đe dọa của Putin được coi là thành công, nó có thể thúc đẩy sự phổ biến vũ khí hạt nhân hơn nữa. “Nếu mối đe dọa này đến cuối cùng chỉ là một sự làm bộ ồn ào vì vũ khí hạt nhân không thể sử dụng được, thì nó có thể thực sự làm giảm áp lực phổ biến vũ khí”.

Tuy nhiên, một số lo lắng vẫn tồn tại ngay cả khi chiến tranh kết thúc. Một nước Nga chiến thắng nhưng đầy thương tích có thể càng  bị kích động từ các mối đe dọa đến từ NATO; một nước Nga sa lầy bởi lực lượng nổi dậy Ukraine có thể muốn tấn công những ai trang bị máy bay chiến đấu cho Ukraine; một nước Nga cố gắng lật đổ nhà lãnh đạo của mình sẽ trở nên bất ổn. Thomas Wright ở Brookings nhắc nhở rằng trước khi tình trạng căng thẳng giảm thiểu và dễ dự đoán hơn thì những năm đầu của Chiến tranh Lạnh đầy rẫy nguy hiểm – từ việc Liên Xô phong tỏa Tây Berlin năm 1948-1949 đến cuộc khủng hoảng tên lửa Cuba năm 1962. Như Wright đã chỉ ra, “Chúng ta đang bắt đầu một kỷ nguyên mới và sự khởi đầu có thể rất nguy hiểm.”

Hoàng Cẩm Thanh là cộng tác viên thử việc của Dự án Đại Sự Ký Biển Đông. Nguồn bài viết: https://www.economist.com/briefing/2022/03/05/the-war-in-ukraine-is-going-to-change-geopolitics-profoundly

—————

Dự án Đại Sự Ký Biển Đông đang nỗ lực duy trì tri thức mở, độc lập và phi chính trị. Mỗi sản phẩm của Dự án đều được thực hiện với thái độ nghiêm túc, khoa học dù trong giới hạn thời gian cá nhân của các thành viên và cộng tác viên Dự án. Nếu độc giả thấy sản phẩm của Dự án Đại Sự Ký Biển Đông hữu ích, hãy chung tay với Dự án để Dự án có thể duy trì hoạt động. Xem hướng dẫn tài trợ ở đây: https://dskbd.org/tai-tro-cho-du-an/. Báo cáo tài chính sẽ được tổng kết vào cuối năm. Chúng tôi xin trân trọng cảm ơn.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.