Vì Sao Eo Biển Malacca Không Phải Là Một Hormuz Khác?

Tác giả: John F. Bradford | ThinkChina ngày 11 tháng 5 năm 2026

Biên dịch: Lê Lam Kiều | Dự án Đại Sự Ký Biển Đông

Hải quân Singapore và Hải quân Malaysia trong một cuộc tập trận chung ở phía bắc Eo biển Malacca vào năm 2023. Ảnh: Bộ Quốc phòng Singapore

Những lo ngại rằng những cảnh tượng căng thẳng đã thấy ở Eo biển Hormuz có thể tái diễn ở Eo biển Malacca trong các cuộc xung đột địa chính trị là không dễ dàng như vậy. Địa lý quân sự của Eo biển Malacca khác hẳn Hormuz. Không chỉ vậy, Mỹ và Trung Quốc theo đuổi những chương trình nghị sự hoàn toàn khác nhau trong khu vực này, còn các quốc gia ven biển ở đây cũng có cơ cấu lợi ích khác biệt trong việc bảo vệ lợi ích của mình. Học giả John Bradford phân tích vì sao điều đó khiến Malacca khó trở thành một “Hormuz khác”.

Cuộc chiến Mỹ–Israel–Iran đã đưa Eo biển Hormuz trở lại trang nhất của truyền thông quốc tế và khiến nhiều người đặt câu hỏi liệu những eo biển chiến lược khác, như Eo biển Malacca hay Eo biển Đài Loan, có thể chịu số phận tương tự hay không. Nhiều nhận định nảy sinh từ các cuộc thảo luận đó đã bỏ qua những khác biệt then chốt về bối cảnh chiến lược và địa lý quân sự giữa các yết hầu hàng hải khác nhau. Chúng ta có đủ lý do để lo ngại, nhưng điều quan trọng là phải hiểu đúng những rủi ro thực sự.

Eo biển Hormuz: tâm điểm của một cuộc xung đột rộng lớn hơn

Việc chỉ nhìn cuộc xung đột hiện tại qua lăng kính Eo biển Hormuz không thực sự hữu ích. Thay vào đó, cần xem xét bài toán kiểm soát biển dọc theo các tuyến hàng hải bắt đầu từ Vịnh Ba Tư, qua Eo biển Hormuz, vào Vịnh Oman rồi lan ra Ấn Độ Dương. Theo giáo sư Milan Vego của Học viện Chiến tranh Hải quân Hoa Kỳ, kiểm soát biển là “khả năng sử dụng một phần nhất định của vùng biển và không phận liên quan cho các mục đích quân sự và phi quân sự trong thời gian xung đột”.

Trước khi mở các đòn tấn công đầu tiên vào Iran ngày 28 tháng 2, Hải quân Mỹ đã rút lực lượng khỏi Vịnh Ba Tư. Vì vậy, Iran có thể dễ dàng sử dụng một loạt vũ khí chống hạm có độ sống sót cao — tên lửa, tàu không người lái trên mặt nước, máy bay không người lái, xuồng tấn công nhanh, tàu ngầm không người lái, thủy lôi, v.v. — để khẳng định quyền kiểm soát biển tại Vịnh Ba Tư, Eo biển Hormuz và khu vực phía bắc Vịnh Oman. Trong khi Mỹ tiếp tục tiêu diệt hải quân chính quy của Iran, các loại vũ khí chống tiếp cận này phần lớn vẫn bảo toàn được năng lực ban đầu dưới sự kiểm soát của Lực lượng Vệ binh Cách mạng Hồi giáo Iran.

Eo biển Hormuz là tuyến hàng hải duy nhất nối Ấn Độ Dương với Vịnh Ba Tư. Vì thế, việc đóng eo biển này đồng nghĩa với cô lập cả khu vực khỏi những lợi ích kinh tế do kết nối đường biển mang lại.

Thông qua việc tấn công tàu thương mại trên tuyến và trong cảng trên khắp không gian rộng lớn ấy, Iran đã áp đặt những quy tắc cơ bản đối với vận tải thương mại. Là điểm nghẽn khu vực nơi Iran có thể tập trung hỏa lực mạnh nhất, Eo biển Hormuz trở thành một chiếc van điều tiết vận tải biển. Những bên tuân theo luật chơi của Iran có thể đi qua, còn những bên không tuân theo sẽ đối mặt với rủi ro lớn.

Ở ngoài vùng duyên hải Iran, Mỹ vẫn duy trì quyền kiểm soát biển. Điều đó bộc lộ ngay từ đầu cuộc xung đột, khi Hải quân Mỹ đánh chìm tàu hộ vệ hạm Dena của Iran gần Sri Lanka và buộc hai tàu khác của Hải quân Iran phải tìm nơi ẩn náu tại các cảng trung lập. Khi Mỹ thiết lập phong tỏa đối với các cảng của Iran, họ có thể thực thi nó ở những địa điểm do mình lựa chọn. Con tàu đầu tiên bị bắt giữ ở Vịnh Oman, nhưng hai tàu tiếp theo lại bị bắt rất xa về phía đông, bên kia Ấn Độ.

Eo biển Malacca: địa lý khác, bài toán cũng khác

Eo biển Malacca và Eo biển Hormuz đều là những eo biển quốc tế, nơi tuyến hàng hải chồng lấn lên lãnh hải của một số quốc gia, và cả hai đều giữ vai trò quan trọng đối với thương mại toàn cầu. Có lẽ đó là điểm tương đồng đáng kể duy nhất.

Eo biển Hormuz là tuyến hàng hải duy nhất nối Ấn Độ Dương với Vịnh Ba Tư. Ngược lại, Eo biển Malacca không phải là lối đi duy nhất từ Ấn Độ Dương tới các vùng biển mà nó kết nối, tức Biển Đông và Biển Java. Việc đi vòng qua eo biển Sunda chỉ làm tăng thêm vài ngày hành trình. Eo biển Lombok xa hơn nhưng vẫn khả thi. Thậm chí, các cảng lớn của Đông Á vẫn có thể tiếp cận được nếu đi vòng hoàn toàn qua quần đảo Indonesia.

Một khác biệt quan trọng hơn nằm ở địa lý quân sự của eo biển. Trong nhiều năm, Iran đã bị khóa chặt vào Eo biển Hormuz. Đây là yếu tố then chốt trong chiến lược của Tehran nhằm răn đe các đòn tấn công do Mỹ và Israel phát động. Không quốc gia nào ven Eo biển Malacca đi theo con đường đó.

Mặc dù Lực lượng Vũ trang Singapore thuộc hàng tinh nhuệ, còn Malaysia và Indonesia đều đang đầu tư vào các hệ thống quân sự chống tiếp cận cần thiết để giành quyền kiểm soát biển ở khu vực, lực lượng của họ không được thiết kế hay bố trí để đóng Eo biển Malacca. Quan trọng hơn, không nước nào trong số này cho rằng một chiến lược như vậy có ích. Do không có đối thủ nào cần bị trừng phạt hoặc răn đe bằng cách cắt đứt thương mại, việc làm đó rốt cuộc chỉ gây tổn hại cho chính họ. Lợi ích chiến lược của họ gắn với việc duy trì lưu thông thông suốt qua Eo biển Malacca.

Mặc dù gần đây một số quan chức Indonesia có nhắc tới ý tưởng thu phí qua lại tại Eo biển Malacca, sau đó họ đã đính chính rằng đó chỉ là phát biểu đùa cợt hoặc giả định. Về mặt lịch sử, người Indonesia vẫn duy trì một cách nhìn pháp lý-xã hội rằng các tuyến hàng hải đi qua quần đảo của họ chính là vùng biển cốt lõi thuộc chủ quyền quốc gia, và việc người ngoài tiếp cận các eo biển này luôn hàm chứa rủi ro an ninh. Tuy nhiên, họ cũng ý thức rõ lợi ích tổng thể mà luật biển quốc tế mang lại cho Indonesia. Làm gián đoạn các luồng thương mại sẽ đi ngược lại với sự dàn xếp pháp lý khôn ngoan mà các thế hệ lãnh đạo của họ đã đạt được trong quá trình đàm phán Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển. Vì vậy, viễn cảnh dựng lên một chế độ thu phí như vậy là rất khó xảy ra. Ngay cả nếu điều đó được áp dụng, động thái ấy tuy có thể gây phiền toái nhưng vẫn khác hẳn về bản chất so với các cuộc phong tỏa thời chiến như xung quanh Iran.

Hải chiến viễn dương

Mặc dù, may mắn thay, một cuộc hải chiến toàn diện ở châu Á vẫn ít có khả năng xảy ra, nguy cơ bùng phát xung đột trên biển cao nhất lại nằm ở các điểm nóng địa chính trị dọc theo vành đai hàng hải của Trung Quốc, bao gồm Biển Hoa Đông, Eo biển Đài Loan và Biển Đông. Nếu những căng thẳng này leo thang thành xung đột vũ trang công khai, đó sẽ không còn là một cuộc chiến bất đối xứng giữa một cường quốc hàng hải toàn cầu và một lực lượng chống tiếp cận ven bờ như ở Trung Đông.

Cả Mỹ và Trung Quốc đều vận hành những hải quân viễn dương quy mô lớn. Các lực lượng này được yểm trợ bởi vũ khí chống tiếp cận bố trí trên đất liền của Trung Quốc, cũng như trên lãnh thổ của Mỹ và các đồng minh dọc chuỗi đảo thứ nhất và thứ hai ở Thái Bình Dương. Bởi vậy, cuộc cạnh tranh đầu tiên giữa hai bên sẽ là giành quyền kiểm soát biển tại những vùng biển quan trọng nhất đối với cuộc xung đột. Giao tranh nhiều khả năng sẽ diễn ra ác liệt ở Biển Hoa Đông và Biển Đông, đồng thời có thể khốc liệt không kém ở Biển Philippines. Một số trận đánh cũng có thể xuất hiện ở Ấn Độ Dương. Ít nhất trong những tuần đầu của xung đột công khai, lực lượng hải quân của đôi bên sẽ có rất ít nguồn lực dành cho những nhiệm vụ khác.

Còn về thương mại?

Trong kịch bản giả định Mỹ và Trung Quốc bước vào chiến tranh công khai, cần giả định rằng họ sẽ không để yên các tàu thương mại của nhau.

Eo biển Malacca và những điểm nghẽn khu vực khác buộc tàu thuyền tập trung trong một không gian tương đối hẹp, vì thế làm chúng dễ bị tổn thương hơn. Nhưng để chặn tất cả các tàu thường đi qua đó sẽ cần nhiều chiến hạm hơn mức mà cả Mỹ lẫn Trung Quốc có thể rút ra khỏi cuộc đối đầu hải quân trực tiếp. Hơn nữa, các eo biển này nằm trong lãnh hải của các quốc gia ven biển. Trong các cuộc xung đột gần đây với Iran và Venezuela, Mỹ đã tôn trọng các quyền đó và chỉ chặn tàu ở vùng biển quốc tế.

Cả Mỹ và Trung Quốc đều có thể lo ngại rằng đối phương sẽ tìm tới sự hỗ trợ của một quốc gia Đông Nam Á nhằm tận dụng vị trí ven biển của nước này để đóng eo biển từ bờ. Tuy nhiên, điều đó rõ ràng sẽ làm tan vỡ thế trung lập của quốc gia ấy — một viễn cảnh mà không ai mong muốn. Hơn nữa, hiệu quả thực tế của lựa chọn này cũng vẫn là một dấu hỏi.

Rất ít lưu lượng qua Eo biển Malacca phục vụ trực tiếp lợi ích của Mỹ, trong khi Trung Quốc đã phát triển các tuyến thay thế và triển khai những biện pháp ứng phó nhằm giảm nhẹ cái gọi là “Thế lưỡng nan Malacca”. Điều đó không có nghĩa là không có gì đáng lo. Cạnh tranh nước lớn vẫn nhiều khả năng sẽ tiếp tục gia tăng. Sự cạnh tranh ấy sẽ diễn ra trên toàn bộ sân khấu địa chính trị toàn cầu, đặc biệt là trên các đại dương. Các eo biển, dù là những cấu trúc địa lý quan trọng và hàm chứa những điểm yếu nhất định, vẫn chỉ là một phần trong một cuộc cạnh tranh rộng lớn hơn.

Thay vì chỉ tập trung vào kịch bản đóng eo biển bằng biện pháp quân sự, điều cần ưu tiên là chuẩn bị để ứng phó với các công cụ chính sách hàng hải khác mà chúng ta đã thấy đang được sử dụng. Đó có thể là thuế quan, trừng phạt và phong tỏa ngoài khơi. Những công cụ này nhiều khả năng sẽ còn được đẩy mạnh hơn nữa và cũng có thể khó đối phó hơn.

John F. Bradford là giám đốc điều hành Hội đồng Yokosuka về Nghiên cứu Châu Á-Thái Bình Dương. Độc giả có thể truy cập bài viết gốc ở đây.

Chính sách tiếp cận báo cáo và dữ liệu chuyên sâu của Dự Án Đại Sự Ký Biển Đông.

Nguyên tắc hoạt động của Dự án Đại Sự Ký Biển Đông.

—————

Dự án Đại Sự Ký Biển Đông tồn tại dựa trên tài trợ của cộng đồng. Nếu quý độc giả muốn có một nguồn thông tin tri thức khách quan, đa chiều dựa trên chiều sâu chuyên môn và dữ liệu có hệ thống, Dự án Đại Sự Ký Biển Đông là một địa chỉ mà mọi người có thể tin tưởng. Hãy chung tay cùng với chúng tôi duy trì Dự án bằng cách tài trợ cho Dự án, và khuyến khích bạn bè, đồng nghiệp cùng tài trợ Dự án. Xem hướng dẫn tài trợ ở đây: https://dskbd.org/tai-tro-cho-du-an/. Báo cáo tài chính sẽ được tổng kết vào cuối mỗi hai năm. Chúng tôi xin trân trọng cảm ơn.


Leave a comment

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.