(Tuần từ 18/5 – 24/5/2026)
Thực hiện: Trần Phạm Bình Minh, Hoàng Việt Hải, Nguyễn Hoàng Trang
Hiệu đính: Nguyễn Nhật Minh

Môi trường chiến lược tại Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương và các khu vực liền kề trong nửa cuối tháng 5 năm 2026 được định hình bởi sự hội tụ của các hoạt động cưỡng ép đa lĩnh vực, sự củng cố quan hệ đối tác an ninh giữa các quốc gia độc tài, và những hạn chế nghiêm trọng về sự sẵn sàng chiến đấu của lực lượng quân sự Hoa Kỳ. Các hoạt động hàng hải của Trung Quốc đã có sự dịch chuyển rõ rệt từ các hành động khẳng định lãnh thổ mang tính cục bộ sang một chiến dịch phối hợp trên quy mô toàn khu vực, kết hợp giữa bao vây trên thực địa và làm suy giảm nhận thức miền hàng hải, trải dài từ quần đảo Philippines, quần đảo Đông Sa đến Tây Thái Bình Dương. Đồng thời, các tác động dây chuyền từ các tình huống xung đột tại Trung Đông đang áp đặt mức tiêu hao liên tục lên năng lực hải quân và thủy quân lục chiến Hoa Kỳ, tạo ra những khoảng trống năng lực dọc theo Chuỗi đảo Thứ nhất. Sự kết hợp giữa khả năng sẵn sàng bị hạn chế của Hoa Kỳ và áp lực dai dẳng của Trung Quốc đang thúc đẩy các đồng minh và đối tác khu vực đẩy nhanh xây dựng năng lực quốc phòng tự chủ, thúc đẩy việc sử dụng các công cụ pháp lý quốc tế một cách quyết đoán hơn, và củng cố các chiến lược phòng ngừa phức tạp nhằm giảm thiểu sự dễ bị tổn thương trước cả sức ép cưỡng ép của Trung Quốc lẫn tính có điều kiện trong các cam kết của Hoa Kỳ đối với đồng minh.
Trích lược thông điệp thiết yếu
1. Các chiến thuật chiến tranh chiếm lĩnh nhận thức và chiến tranh điện tử tiên tiến đã được áp dụng đối với Philippines, thể hiện qua hành vi giả mạo hệ thống nhận dạng tự động AIS một cách có hệ thống trong các cảng biển thuộc chủ quyền Philippines nhằm áp đặt gánh nặng xác minh và chi phí tập trung chỉ huy lên các lực lượng phòng thủ Philippines trước khi xảy ra đối đầu thực địa. Sự cố này tương tự với thực tiễn đã được ghi nhận của Trung Quốc đối với Đài Loan.
2. Philippines hiện là nút trung tâm của một kiến trúc an ninh hàng hải đồng minh phân tán đang được xây dựng nhằm duy trì tính liên tục hoạt động một cách độc lập trước những biến động trong cam kết chính trị của Hoa Kỳ. Logic thiết kế là năng lực chống chịu không phụ thuộc vào bất kỳ quan hệ song phương đơn lẻ nào.
3. Các cam kết quân sự kéo dài tại Trung Đông đã tạo ra những khoảng trống năng lực có thể đo lường được trong kiến trúc răn đe của Hoa Kỳ tại Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương, được minh chứng bằng sự vắng mặt được thừa nhận công khai của Lữ đoàn Thủy quân Lục chiến Viễn chinh 31, đợt triển khai lịch sử 326 ngày của tàu sân bay USS Gerald R. Ford, và việc hủy bỏ các chương trình luân phiên quân sự tại Châu Âu.
4. Cuộc diễn tập đổ bộ F-35B trên tàu JS Kaga vào cuối tháng 6 và Sáng kiến Nhận thức Miền Biển tám quốc gia của Nhật Bản là những phát triển năng lực đồng minh có ý nghĩa tác chiến quan trọng nhất trong tuần. Sự hội tụ của nhóm tác chiến tàu sân bay George Washington với Không đoàn Tàu sân bay 5 đóng tại MCAS Iwakuni, và tàu Kaga được trang bị cho hoạt động F-35B tại Tây Thái Bình Dương, tạo ra tín hiệu về năng lực tàu sân bay thế hệ thứ năm. Sáng kiến Nhận thức Miền Biển của Nhật Bản, được cấu trúc thông qua Hỗ trợ An ninh Chính thức thay vì viện trợ quân sự trực tiếp, cung cấp một mô hình có khả năng mở rộng để xây dựng kiến trúc cảm biến đồng minh trên toàn Đông Nam Á mà không tạo ra ma sát ngoại giao gắn liền với các cam kết liên minh chính thức.
5. Hợp tác an ninh giữa Trung Quốc, Nga và Triều Tiên đã tiến từ sự liên kết trên tuyên bố sang trao đổi tác chiến thực chất. Mối quan hệ này tạo điều kiện cho việc chuyển giao trực tiếp kinh nghiệm chiến đấu thực tế cho Quân Giải phóng Nhân dân đổi lấy công nghệ lưỡng dụng, đồng thời tích hợp đạn dược và nhân sự Triều Tiên vào kế hoạch chiến lược của Nga. Việc thể chế hóa các trao đổi này cấu thành một sự thay đổi về chất trong quan hệ ba bên, với những hệ quả trực tiếp cho năng lực học hỏi của PLA và tính bền vững của các hoạt động quân sự Nga.
6. Đường lối ngoại giao gần đây của Hoa Kỳ, bao gồm tham vọng lãnh thổ tối đa tại Greenland và việc đình chỉ hội đồng quốc phòng với Canada, đang khiến các đối tác ở Ấn Độ Dương–Thái Bình Dương đặt câu hỏi về mức độ đáng tin cậy của liên minh với Washington, và liệu mối quan hệ đó có kèm theo điều kiện gì không. Bằng chứng hiện có không đủ cơ sở để mô tả Hoa Kỳ đã hoàn toàn chuyển sang mô hình đồng minh theo kiểu giao dịch, song nhận thức về tính có điều kiện trong quan hệ đồng minh với Hoa Kỳ đang lan rộng và thúc đẩy các quốc gia đồng minh của Hoa Kỳ hành động. Hệ quả chính sách là các đồng minh đang đồng thời tăng cường hợp tác an ninh với Hoa Kỳ và giảm thiểu một cách có hệ thống sự phụ thuộc vào tính liên tục của cam kết đó.
7. Các chiến dịch chống IUU, hợp đồng cung cấp giàn khoan tự nâng của PV Drilling cho Zarubezhneft EP Vietnam, các cuộc đàm phán quốc phòng BrahMos đang tiến hành với Ấn Độ, đề xuất tại Hội nghị Quan chức Cấp cao ASEAN-Trung Quốc thúc đẩy Trung Quốc gia nhập Nghị định thư SEANWFZ, và chuyến thăm cảng Đà Nẵng của tàu HMCS Charlottetown của Hải quân Canada, tất cả những sự kiện này tiếp tục phản ánh chiến lược phòng ngừa đa hướng nhất quán của Hà Nội. Việt Nam đang thực hiện những hướng chính sách tương hỗ lẫn nhau thay vì tuần tự. Cách tiếp cận này mang lại chiều sâu chiến lược tích lũy dần mà không cần liên kết chính thức với bất kỳ đối tác đơn lẻ nào.
Báo cáo đầy đủ dưới đây với 48 trang, trình bày 36 sự kiện được chọn lọc trong tuần kèm phân tích sâu nhằm giúp độc giả nhanh chóng nắm bắt hàm ý chiến lược hay nghị trình đằng sau.
—
MỤC LỤC
I. BIỂN ĐÔNG
I.1. Các hoạt động vùng xám và hành vi cưỡng ép của Trung Quốc
I.2. Các động thái mở rộng lãnh thổ và quân sự của Trung Quốc
I.3. Phản ứng của Philippines
1.4 Phản ứng của Việt Nam
I.5. Các cuộc tập trận quân sự đa phương và hoạt động liên minh
1.6. Ngoại giao, đàm phán COC và lập trường ASEAN
I.7 Hợp Tác Hàng Hải Khu Vực và Xây Dựng Năng Lực
II. ĐÀI LOAN VÀ EO BIỂN ĐÀI LOAN
II.1. Áp lực không-hải dai dẳng của Trung Quốc
II.2 Diễn biến chính trị xuyên eo biển
II.3 Thế trận quốc phòng và các phản ứng của Đài Loan
III. BIỂN HOA ĐÔNG VÀ ĐÔNG BẮC Á
III.1 Hoạt động của Hải cảnh và tàu khảo sát Trung Quốc
III.2 Phản ứng và hoạt động giám sát của Nhật Bản
IV. NHỮNG DIỄN BIẾN CHIẾN LƯỢC LIÊN KHU VỰC
IV.1 Khủng hoảng hàng hải Trung Đông và các yết hầu toàn cầu
IV.2 Triển khai lực lượng chiến lược và tập trận song phương
IV.3 Hệ thống Dưới mặt nước và Hệ thống Không người lái
IV.4 Diễn đàn Quốc phòng, Liên minh và Chính sách
—
Tải toàn văn Chuyển Động Biển Mở Số 10 ở đây.
Chính sách tiếp cận báo cáo và dữ liệu chuyên sâu của Dự Án Đại Sự Ký Biển Đông.
Nguyên tắc hoạt động của Dự án Đại Sự Ký Biển Đông.
—————
Dự án Đại Sự Ký Biển Đông tồn tại dựa trên tài trợ của cộng đồng. Nếu quý độc giả muốn có một nguồn thông tin tri thức khách quan, đa chiều dựa trên chiều sâu chuyên môn và dữ liệu có hệ thống, Dự án Đại Sự Ký Biển Đông là một địa chỉ mà mọi người có thể tin tưởng. Hãy chung tay cùng với chúng tôi duy trì Dự án bằng cách tài trợ cho Dự án, và khuyến khích bạn bè, đồng nghiệp cùng tài trợ Dự án. Xem hướng dẫn tài trợ ở đây: https://dskbd.org/tai-tro-cho-du-an/. Báo cáo tài chính sẽ được tổng kết vào cuối mỗi hai năm. Chúng tôi xin trân trọng cảm ơn.