Học Giả Trung Quốc Viết Về Định Hướng Chính Trị Và Đối Ngoại Của Việt Nam Sau Thời Đại Nguyễn Phú Trọng

Tác giả: Triệu Vệ Hoa | Phoenix International Think Tank ngày 01 tháng 8 năm 2024

Biên dịch: Nguyễn Phương Ngân | Dự án Đại Sự Ký Biển Đông

Tổng Bí thư Trung Quốc Tập Cận Bình trao tặng Huân chương Hữu nghị cho Tổng Bí thư Việt Nam Nguyễn Phú Trọng tại Bắc Kinh, ngày 31 tháng 10 năm 2022. Ảnh: Tân Hoa Xã.

Theo trang Inside China, Giáo sư Triệu Vệ Hoa (赵卫华) là một trong những nhà quan sát Việt Nam hàng đầu tại Trung Quốc. Gần đây, ông đã đến Việt Nam trùng với thời gian quốc tang ở đất nước này. Ông đã có dịp trải nghiệm bầu không khí xã hội hiện tại ở Việt Nam. Trong bài luận này, ông chia sẻ những quan sát và hiểu biết của mình trong thời gian ở Hà Nội và đưa ra cách giải thích của mình về định hướng tương lai của chính trị trong nước và quan hệ đối ngoại của Việt Nam. Đây là một khởi đầu tốt để hiểu cách giới học thuật và chính sách Trung Quốc nhìn nhận mối quan hệ này.

Triệu là giáo sư tại Viện Nghiên cứu Quốc tế, Đại học Phục Đán và là giám đốc Trung tâm Quan hệ Trung Quốc và Các nước Lân cận tại Đại học Phúc Đán. Ông có năm năm kinh nghiệm làm việc và học tập tại Việt Nam. Ông có nền tảng đa ngành về nhân chủng học, lịch sử, khoa học chính trị và quan hệ quốc tế.

Dưới đây là toàn văn bài viết của ông.

—————

Việt Nam trong giai đoạn Quốc tang

Hai ngày sau sự ra đi của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, tôi cùng đồng nghiệp và các nhà đầu tư Trung Quốc hạ cánh tại sân bay Nội Bài. Dù có nhiều tin đồn rằng một vài địa điểm sẽ bị đóng cửa trong thời điểm Quốc tang, nhưng chúng tôi cho rằng lượt khách tại sân bay hay hải quan không có khác biệt so với mọi ngày. Chúng tôi lo lắng các sự kiện đã được lên kế hoạch từ trước như hội thảo hay chuyến dã ngoại liệu có bị thay đổi. Tôi rất lo lắng không biết Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia và các hiệu sách mà tôi thường ghé thăm có bị đóng cửa hay không. Tuy vậy, sau khi đi qua cửa hải quan, những lo lắng đó đều nhanh chóng được xua tan.

Khách sạn của chúng tôi nằm gần đường Giảng Võ và đường Trần Huy Liệu ở Hà Nội, cách sân bay khoảng 23 kilomet và được nối liền bởi hệ thống đường cao tốc. Trên quãng đường vào trung tâm thành phố, chúng tôi đi qua cầu Sông Hồng. Sông Hồng hay còn được gọi là sông Nguyên ở Trung Quốc, bắt nguồn từ Đại Lý, hợp với sông Nam Tây ở Hà Khẩu, Vân Nam rồi chảy vào Việt Nam. Sông Hồng đi qua Hà Nội rồi đổ ra Vịnh Bắc Bộ ở Hải Phòng. Huyện Đông Anh là quê hương của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nằm ở phía bên kia cầu sông Hồng. Ông Nguyễn Phú Trọng sinh ngày 14 tháng 4 năm 1944 tại xã Đông Hội, huyện Đông Anh. Ông lớn lên tại quê nhà cho tới những năm du học ở Liên Xô .

Chúng tôi rời sân bay lúc trời chập tối, giao thông ở nơi này trật tự, đường sá tấp nập và các cửa hàng vẫn hoạt động bình thường. Người dân đi bộ quanh hồ và nói chuyện với nhau dưới những tán cây. Nhân viên khách sạn chào đón chúng tôi bằng nụ cười và sự thân thiện như mọi khi. Sau khi check-in khách sạn, tôi bật chương trình phát thanh của Việt Nam trên chiếc radio cầm tay của mình. Hầu hết các kênh đều đưa tin về sự ra đi của ông Nguyễn Phú Trọng, một vài kênh thành phố vẫn đưa tin kinh tế, tài chính, giao thông và các chương trình văn hoá.

Trong thời gian Quốc tang, nhịp sống của Việt Nam vẫn không bị gián đoạn. Mọi người vẫn tiếp tục sống và làm việc, xã hội vẫn vận hành như mọi khi. Ngoại trừ việc ti vi, radio và báo chí đưa tin về sự ra đi của ông Nguyễn Phú Trọng, mọi thứ ở Hà Nội dường như không hề thay đổi. Ngay cả Quảng trường Ba Đình, Tòa nhà Quốc hội và Phủ Chủ tịch cũng không treo cờ rủ cho đến ngày 22 theo quy định về quốc tang hai ngày vào ngày 25 và 26.

Khi nhắc đến Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, người dân Việt Nam thường nghĩ về hình ảnh một nhà lãnh đạo tốt, trung thực, chính trực. Những lời nhận xét giản dị, chân thành này cho thấy rõ vị trí của ông trong lòng người dân và sự công nhận của họ dành cho vị Tổng Bí thư. Ông đã cống hiến không biết mệt mỏi cho Việt Nam cho tới tận cuối đời, cuối cùng để lại một xã hội ổn định, một nền kinh tế phát triển nhanh chóng và vị thế quốc gia trên trường quốc tế ngày một cao. Sau khi quay về Trung Quốc vào hôm 26, tôi đã xem những video ghi lại cảnh người dân Hà Nội đến tang lễ tiễn đưa ông, khung cảnh đó đã từng diễn ra tại tang lễ của Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Những hành động xuất phát từ tâm của mỗi người dân Việt Nam cho thấy rõ sự tôn trọng và nhớ ơn của họ dành cho một nhà lãnh đạo.

Những thành tựu và cống hiến của ông Nguyễn Phú Trọng

Nguyễn Phú Trọng là một trong những nhà lãnh đạo có thời gian tại chức lâu nhất trong lịch sử Việt Nam hiện đại với nhiệm kỳ dài 13 năm, chỉ sau 24 năm của Chủ tịch Hồ Chí Minh (1945-1969) và 17 năm của Lê Duẩn (1969-1986). Ông cũng là người lãnh đạo Việt Nam lâu nhất kể từ Đổi Mới và là một trong số ít Tổng Bí thư của Đảng Cộng sản Việt Nam qua đời khi còn đương chức, sau Hồ Chí Minh và Lê Duẩn.

Trong suốt 13 năm đương nhiệm, ông đã dành hết tâm huyết cống hiến cho Việt Nam cho đến tận những giây phút cuối cùng của cuộc đời. Nguyễn Phú Trọng kế nhiệm Nông Đức Mạnh trong bối cảnh Việt Nam với một nền chính trị ổn định, kinh tế phát triển nhanh chóng và tầm vóc quốc tế ngày càng tăng. Tuy nhiên, ông không muốn đất nước chỉ dừng ở mức bình ổn mà còn phải có những bước tiến thật xa, đạt được nhiều thành tựu trong phát triển kinh tế, mở rộng quan hệ ngoại giao, xây dựng thể chế, chống tham nhũng, lý luận văn hóa và đoàn kết dân tộc. Đặc biệt, mặc dù bị ảnh hưởng nặng nề bởi đại dịch, tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam vẫn đạt trên 8%, mức tăng trưởng cao nhất kể từ Đổi Mới, biến Việt Nam trở thành một trong những thị trường hấp dẫn nhất thế giới. Khi ông qua đời, Việt Nam đang ở thời kỳ đỉnh cao trong lịch sử về mọi mặt.

1. Về phát triển kinh tế và xã hội, trong 13 năm tại chức của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, nền kinh tế Việt Nam duy trì tốc độ tăng trưởng trung bình cao khoảng 5-6%. Trong năm năm cuối cùng của nhiệm kỳ, nền kinh tế Việt Nam đã đạt được tốc độ tăng trưởng cao 7-8%, trở thành một trong những thị trường hấp dẫn nhất đối với các nhà đầu tư nước ngoài trên thế giới.

Vào năm 2011, khi Nguyễn Phú Trọng mới nhậm chức Tổng Bí thư, Việt Nam vừa trải qua một thập kỷ vàng dưới sự dẫn dắt của Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh. Mặc dù kinh tế Việt Nam lúc bấy giờ phát triển mạnh, xã hội cũng dần bình ổn và vị thế quốc tế cũng dần được khẳng định, nhưng Việt Nam chỉ vừa vượt qua ngưỡng thu nhập trung bình thấp. Khi so sánh với giai đoạn những năm 90 của thế kỷ trước, Việt Nam lúc này đã có nhiều thay đổi lớn, nhưng vẫn còn khá lạc hậu so với các quốc gia khác trên thế giới. Lúc bấy giờ GDP Việt Nam chỉ đạt 115,9 tỷ đô la Mỹ, GDP bình quân đầu người đạt 1318 đô la Mỹ, con số này thậm chí thấp hơn cả Lào. Đến năm 2024 khi ông qua đời, GDP của Việt Nam đạt 430 tỷ đô la Mỹ, và GDP bình quân đầu người là 4.284 đô la Mỹ, gần gấp bốn lần so với 13 năm trước.

Có thể thấy rằng thành tựu của ông Nông Đức Mạnh là dẫn dắt Việt Nam từ một nước có nhiều bất ổn trở nên bình ổn, khôi phục niềm tin của nhân dân, cải thiện vị thế quốc tế của Việt Nam, và khởi đầu cho giai đoạn hiện đại hóa của Việt Nam, còn những cống hiến của ông Nguyễn Phú Trọng đã giúp Việt Nam chuyển mình từ một nước tự cung tự cấp sang một quốc gia tương đối khá giả, dịch chuyển mô hình đất nước tập trung công nghiệp hóa sang chuyển đổi số và ứng dụng công nghệ thông tin.

Khoảng những năm 2010, quá trình hiện đại hoá dù đã được hình thành ở Việt Nam, song vẫn còn tụt hậu khi so sánh với các nước láng giềng ở nhiều khía cạnh. Chẳng hạn như việc bắt xe taxi khi đó phải ra sát mặt đường vẫy xe hoặc trực tiếp gọi điện cho tài xế. Điều này không chỉ bất tiện cho người nước ngoài khi đến công tác tại Việt Nam mà còn bất tiện cho người dân địa phương. Tất cả các giao dịch hàng hóa hàng ngày đều được thực hiện tại các cửa hàng mua bán thuần túy, không hề có sự tồn tại của thương mại điện tử, và càng không có các dịch vụ sau khi mua sắm. Năm 2019, Bộ Chính trị Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã thông qua nghị quyết về việc nhanh chóng thực hiện cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư và thực hiện số hóa đất nước.

Tại Đại hội XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam, Đảng cũng đã đề xuất mục tiêu “Hai 100 năm” phiên bản Việt Nam nhằm xây dựng Việt Nam thành một nước công nghiệp hiện đại vào năm 2030 – năm kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng, và thành một cường quốc công nghiệp xã hội chủ nghĩa hiện đại vào năm 2045 – năm kỷ niệm 100 năm độc lập, thực hiện hiện đại hóa đất nước và biến Việt Nam thành một quốc gia phát triển.

Dưới sự chỉ đạo của nghị quyết Đại hội XIII, Chính phủ Việt Nam đã trình “Kế hoạch Chuyển đổi Số Quốc gia” vào năm 2021, với mục tiêu chuyển đổi số toàn diện cho đất nước. Chỉ trong vài năm, xã hội của Việt Nam đã trải qua những thay đổi to lớn về mọi mặt, không chỉ nằm ở mức độ hiện đại hóa của đất nước được cải thiện rõ rệt, mà mức độ thông tin hóa cũng phát triển từ con số không với tốc độ chưa từng thấy. Tại Hà Nội, người dân có thể dễ dàng sử dụng Grab để gọi xe, đặt đồ ăn, mua sắm online và gửi hàng hỏa tốc tại nhà. Sự tiện lợi mà số hóa mang lại đã nhanh chóng lan tỏa đến mọi ngóc ngách của các thành phố và các thị trấn, làng quê chỉ trong vòng mười năm. Quy mô số hóa và thông tin hóa của Việt Nam hiện đứng thứ hai trong ASEAN, và mức phát triển bình quân đầu người đứng thứ tư. Dự kiến đến năm 2030, Việt Nam sẽ chỉ đứng sau Singapore về mức phát triển bình quân đầu người.

2. Về mặt ngoại giao, ông Nguyễn Phú Trọng tiếp tục kiên định thực hiện chính sách đối ngoại thực chất, thêm bạn bớt thù, phục vụ lợi ích quốc gia dân tộc. Ông duy trì sự cân bằng giữa các cường quốc, đặc biệt là giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ, đưa tầm vóc quốc tế của Việt Nam đạt mức đỉnh cao kể từ khi tuyên bố độc lập năm 1945.

Trong nhiệm kỳ thứ hai giữ chức vụ Tổng Bí thư, ông Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh rằng ngoại giao của Việt Nam cần thể hiện bản sắc và tinh thần dân tộc, như cây tre, vừa mạnh mẽ vừa linh hoạt nhằm bảo vệ lợi ích quốc gia. Ông đặc biệt nhấn mạnh rằng dù cây tre có bị uốn cong 180 độ, nó vẫn sẽ đứng thẳng khi tác động ngoại lai biến mất. Ông sử dụng hình ảnh này để nhấn mạnh rằng Việt Nam sẽ không bao giờ dễ dàng từ bỏ việc theo đuổi các mục tiêu của mình. Đôi khi, Việt Nam có thể tạm thời nhượng bộ trong ngoại giao, nhưng sẽ không bao giờ từ bỏ các mục tiêu lâu dài.

Theo tinh thần đó, ông kiên định, nhất quán về nguyên tắc bảo vệ lợi ích dựa trên lợi ích cốt lõi của quốc gia. Ông nhấn mạnh rằng Việt Nam hiện nay đang trong bối cảnh môi trường quốc tế hòa bình và nhiệm vụ cao cả nhất là tận dụng môi trường thuận lợi này cho sự phát triển của quốc gia. Ông đặc biệt nhấn mạnh việc duy trì sự thống nhất giữa môi trường phát triển hòa bình của đất nước và chủ quyền quốc gia, nhấn mạnh việc bảo vệ chủ quyền quốc gia phải đi đôi với duy trì môi trường quốc tế hòa bình.

Dưới sự chỉ đạo này, trong suốt nhiệm kỳ của Nguyễn Phú Trọng, Việt Nam đã tiếp tục củng cố và làm sâu sắc hơn nữa quan hệ đối tác chiến lược của mình với các quốc gia hữu nghị truyền thống như Nga và Ấn Độ và nâng cấp quan hệ với Hoa Kỳ và Nhật Bản lên đối tác chiến lược toàn diện.

Đặc biệt, trong nhiệm kỳ của ông, Trung Quốc và Việt Nam đã đạt được thỏa thuận chung xây dựng cộng đồng chia sẻ tương lai, làm cho quan hệ Trung-Việt trở nên độc đáo trong mối quan hệ của Việt Nam với các cường quốc.

3. Về xây dựng thể chế, ông Nguyễn Phú Trọng tiếp tục duy trì chính sách cải cách thời kỳ Nông Đức Mạnh. Trên cơ sở hệ thống “tứ trụ” được củng cố trong thời kỳ Nông Đức Mạnh, ông đã mở rộng thành “tứ trụ +1” hay hệ thống “5 cá nhân chủ chốt”. Cùng với đó, ông cũng gia tăng tỷ lệ bầu đại biểu Quốc Hội thông qua cạnh tranh bầu cử, đưa ra hệ thống tín nhiệm bầu cử Quốc Hội, và củng cố và cải thiện hơn nữa hệ thống chủ nghĩa xã hội Việt Nam.

Sau khi thống nhất đất nước, cơ quan quyền lực tối cao bao gồm Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch nước, Chính phủ và Quốc Hội, nhưng quyền lực của Chủ tịch Quốc Hội vẫn còn thấp hơn so với 3 vị trí kể trên cho đến những năm đầu thời kỳ Đổi Mới. Cho đến khi ông Nông Đức Mạnh giữ chức Chủ tịch Quốc Hội, những người giữ 4 vị trí này đều là uỷ viên Ban Thường vụ Bộ Chính trị (Ban Thường vụ Bộ Chính trị bị bãi bỏ vào Đại hội IX, nay gọi thành viên của cơ quan này là Uỷ viên Bộ Chính trị). Sau thời ông Nông Đức Mạnh, 4 vị trí quyền lực Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ và Chủ tịch Quốc Hội dần được biết đến nhiều hơn.

Sau Đại hội Đảng khoá XI, Nguyễn Phú Trọng giữ chức Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam. Ngoài “tứ trụ” là Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ và Chủ tịch Quốc hội, Thường trực Ban Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam được bổ sung vào hạt nhân quyền lực cao nhất, phát triển hệ thống “bốn trụ cột” thành cơ chế “tứ trụ + 1” hay “5 cá nhân chủ chốt”. Trong năm cá nhân, mặc dù vị thế của Thường trực Ban Bí thư Ban Chấp hành Trung ương chưa ngang bằng với “tứ trụ”, nhưng vai trò và ảnh hưởng của vị trí này trong đời sống chính trị Việt Nam ngày càng tăng.

Kể từ lần đầu tiên ông Nguyễn Phú Trọng được bầu chọn làm Tổng bí thư Ban Chấp hành TW Đảng Cộng sản Việt Nam, những cá nhân giữ vị trí Thường trực Ban Bí thư Ban Chấp hành Trung ương bao gồm Đinh Thế Huynh, Trần Quốc Vượng, Võ Văn Thưởng, Trương Thị Mai và Trần Tuấn Anh. Trong đó ông Đinh Thế Huynh, Trần Quốc Vượng và ông Võ Văn Thưởng được đánh giá là những ứng cử viên sáng giá kế nhiệm vị trí Tổng Bí thư. Mặc dù cuối cùng vì nhiều lý do, không ai trong số ba cá nhân này được bầu chọn cho vị trí Tổng Bí thư nhưng vị thế của chiếc ghế Bí thư Ban Chấp hành Trung ương dần được nâng cao trong bộ máy Nhà nước Việt Nam.

Một sáng kiến ​​khác của Nguyễn Phú Trọng là cải cách hệ thống giám sát của Quốc hội Việt Nam. Dựa trên hệ thống chất vấn của Quốc hội, ông đã đưa ra hệ thống bỏ phiếu tín nhiệm, đánh giá các quan chức chủ chốt, bao gồm Chủ tịch nước, Phó Chủ tịch nước, Chủ tịch và Phó Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Phó Thủ tướng Chính phủ và các bộ trưởng, thông qua bỏ phiếu tín nhiệm.

Việc bỏ phiếu tín nhiệm diễn ra sau phiên chất vấn của Quốc hội và được tiến hành một lần trong năm. Phiếu tín nhiệm của đại biểu Quốc hội được chia thành ba loại: tín nhiệm cao, tín nhiệm và tín nhiệm thấp. Nếu số phiếu tín nhiệm thấp vượt quá 50%, những cán bộ có liên quan sẽ bị coi là thiếu sự tín nhiệm của đại biểu Quốc hội và nhân dân và phải từ chức sớm mà không chờ hết nhiệm kỳ. Cho đến nay, mặc dù chưa có cán bộ chủ chốt nào bị Quốc hội bỏ phiếu kết thúc nhiệm kỳ, nhưng trên thực tế, những lãnh đạo chủ chốt như Phạm Bình Minh, Nguyễn Xuân Phúc, Vũ Đức Đam, Võ Văn Thưởng, Vương Đình Huệ đã tự nguyện từ chức. Hệ thống này thực sự đã tạo áp lực rất lớn đối với những người đang tại vị và đóng vai trò quan trọng trong việc cải thiện quản trị và thúc đẩy tiến bộ xã hội.

4. Sự quyết liệt và duy trì chống tham nhũng. Trong suốt thập kỷ đầu tiên kể từ khi Đổi Mới, do thiếu kinh nghiệm và chịu sự ảnh hưởng từ những thay đổi mạnh mẽ từ các nước Đông u và mô hình nhà nước Liên Xô, Việt Nam đã phải trải qua cuộc khủng hoảng chính trị và kinh tế trầm trọng vào khoảng những năm 1990. Tỷ lệ lạm phát vẫn ở mức trên 1.000% trong nhiều năm liên tiếp và đồng tiền Việt Nam mất giá mạnh trong giai đoạn.

Trong bối cảnh đó, sự rối loạn trong xã hội và tham nhũng cũng đạt đến mức nghiêm trọng cực đỉnh khiến nhiều học giả nhận định giai đoạn này là “10 năm bảo vệ chủ nghĩa xã hội”. Phải đến khi ông Nông Đức Mạnh lên nắm quyền với hàng loạt chính sách cải cách thể chế và biện pháp chống tham nhũng mới được áp dụng để củng cố chế độ xã hội chủ nghĩa và hình ảnh của Đảng Cộng sản trong lòng nhân dân.

Nguyễn Phú Trọng, một nhà lý luận có bề dày kinh nghiệm hoạt động cho Đảng Cộng sản đã có những đóng góp vô cùng lớn lao cho các lý luận của Đảng và cho sự phát triển văn hoá. Ông đã có nhiều bài viết liên quan đến các vấn đề xây dựng Đảng, văn hoá, kinh tế xã hội, trong đó có những tác phẩm nổi bật như “Xây dựng và phát triển nền đối ngoại, ngoại giao Việt Nam toàn diện, hiện đại, mang đậm bản sắc “cây tre Việt Nam” và “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, góp phần xây dựng Đảng và Nhà nước ta ngày càng trong sạch, vững mạnh”.

Với tư cách là Tổng Bí thư, ông Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xây dựng văn hóa dân tộc và thúc đẩy đoàn kết dân tộc. Năm 2012, Việt Nam đề xuất phát triển chủ nghĩa xã hội với nét văn hóa dân tộc mạnh mẽ mang đậm bản sắc Việt Nam, phản ánh lòng tin dân tộc gia tăng sau một thập kỷ tăng trưởng kinh tế nhanh chóng. Ông Nguyễn Phú Trọng chủ trương đoàn kết mọi lực lượng và dân tộc để xây dựng Việt Nam trong khi ngăn chặn thế lực chống cộng và chống Việt Nam tham gia vào hoạt động lật đổ. Ông cũng tìm cách hòa giải với những người lưu vong của chế độ Việt Nam Cộng hòa trước đây để tập hợp sự ủng hộ cho sự phát triển kinh tế của Việt Nam.

Chiến lược đối ngoại của Việt Nam trong tương lai và mối quan hệ giữa Việt Nam – Trung Quốc

Nguyên Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Văn Linh đã đưa ra những đánh giá cụ thể về chính sách một chiều của Việt Nam với Liên Xô cuối giai đoạn Chiến tranh Lạnh, đề xuất chính sách thêm bạn bớt thù, mở rộng quan hệ với các nước khác, đồng thời sẵn sàng làm bạn với tất cả các quốc gia. Kể từ khi Đổi mới, chính sách đối ngoại của Việt Nam được xây dựng trên cơ sở đó và đã phát triển thành một nền ngoại giao cân bằng quyền lực trong các thực tiễn ngoại giao sau này, duy trì cân bằng ngoại giao giữa các cường quốc như Trung Quốc, Hoa Kỳ, Nga và Nhật Bản để bảo vệ tối đa lợi ích quốc gia của Việt Nam.

Sự trỗi dậy của Trung Quốc và việc vị thế quốc tế của Việt Nam được cải thiện đã khiến Hoa Kỳ và các quốc gia phương Tây khác đã cố gắng sử dụng Việt Nam để chống lại Trung Quốc. Với mục tiêu đó, Hoa Kỳ, Nhật Bản và các nước khác đã tăng cường nỗ lực lôi kéo Việt Nam kể từ khoảng năm 2009, cố gắng biến Việt Nam thành điểm tựa chiến lược để đối đầu và kiềm chế Trung Quốc. Tất nhiên, Việt Nam hiểu rất rõ ý đồ của Hoa Kỳ và các nước phương Tây.

Tuy nhiên, Việt Nam không mong muốn bản thân trở thành công cụ cho các cường quốc tham gia vào cuộc đối đầu địa chính trị; thay vào đó, Việt Nam nỗ lực tối đa để bảo vệ lợi ích của mình. Để làm được điều đó, ngoài việc tiếp tục theo đuổi chính sách ngoại giao cân bằng quyền lực giữa các cường quốc, Việt Nam đặc biệt nhấn mạnh cần duy trì ngoại giao công bằng giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ, giữ cân bằng giữa hai nước và bảo vệ lợi ích quốc gia của Việt Nam bằng cách duy trì quan hệ hữu nghị với cả hai quốc gia.

Chính sách đối ngoại, điểm bắt đầu và đích đến chiến lược đều nhằm phục vụ lợi ích quốc gia của Việt Nam, Trong bài phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại Hội nghĩ Công tác Đối ngoại năm 2022, ông nhấn mạnh tầm quan trọng của tinh thần cây tre Việt Nam trong ngành ngoại giao, kiên định theo đuổi chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác, phát triển đa dạng hóa và đa phương hóa, và kiên quyết bảo vệ lợi ích quốc gia của Việt Nam.

Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh rằng ngay cả khi cây tre bị uốn cong 180 độ, nó vẫn sẽ đứng thẳng khi không còn những áp lực ngoại lai. Ông nhấn mạnh rằng ngoại giao của Việt Nam phải vừa mạnh mẽ vừa mềm dẻo, thích nghi linh hoạt nhưng không cực đoan.

Mặc dù Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã qua đời, nhưng các chính sách trên không phải là quan điểm cá nhân của ông mà là sự đồng thuận ở Việt Nam. Do đó, mặc dù Hoa Kỳ và phương Tây liên tục cố gắng lôi kéo Việt Nam, nhưng dựa trên lợi ích nguyên tắc của mình, hoàn toàn không có khả năng Việt Nam nghiêng hẳn về phương Tây.

Vì vậy, những nỗi lo về việc Việt Nam có nghiêng về Hoa Kỳ và phương Tây hay không là điều không cần thiết. Những nỗ lực nhằm khiến Việt Nam nghiêng về Hoa Kỳ và phương Tây chẳng qua chỉ là ảo tưởng và cuối cùng sẽ chỉ dẫn đến sự thất vọng.

Trên thực tế, kể từ khi tuyên bố độc lập năm 1945, trải qua nhiều thăng trầm trong suốt 70 năm lịch sử, nền ngoại giao Việt Nam đã ngày càng trưởng thành. Sau cuộc xung đột Nga – Ukraina, Hoa Kỳ và phương Tây liên tục gây áp lực cho phía Việt Nam phải lên án Nga, nhưng Việt Nam vẫn kiên định và nhất quyết áp dụng chính sách trung lập giữa Nga và Ukraina. Đồng thời, một số chính trị gia và học giả, bao gồm cựu Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam, Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh, cũng đã thảo luận về các vấn đề liên quan. Họ đã suy ngẫm về lịch sử của đất nước và đưa ra kết luận rõ ràng rằng ngoại giao của Việt Nam không thể đi theo con đường một chiều như ngày trước và phải nhìn vào tấm gương của Ukraina để rút kinh nghiệm, cần kiên định theo đuổi chính sách ngoại giao độc lập, tự chủ và hòa bình, phát triển quan hệ hữu nghị với tất cả các nước đồng thời không liên minh với một nước để chống lại nước khác.

Về quyền lợi lãnh thổ và hàng hải, Trung Quốc và Việt Nam có nhiều điểm bất đồng không thể lờ đi. Tuy nhiên, những bất đồng đó chỉ là một phần so với tình hình hợp tác hữu nghị lâu dài giữa Trung Quốc và Việt Nam.

Một trong những lý do quan trọng giúp Việt Nam và Trung Quốc cùng đi đến một thỏa thuận chung về cộng đồng chia sẻ tương lai là bởi cả hai bên đều có niềm tin rằng so với lợi ích chiến lược tổng thể và lâu dài của hai quốc gia, những điểm bất đồng một phần chưa được giải quyết không nên ảnh hưởng đến tình hình hợp tác hữu nghị giữa hai nước. Là những quốc gia anh em núi liền núi, sông liền sông, hai bên tin rằng người dân hai nước đều có thể giải quyết những khác biệt của mình và cùng tìm ra được sự đồng thuận chung. Những khác biệt giữa Trung Quốc và Việt Nam liên quan đến chủ quyền lãnh thổ và quyền lợi hàng hải trong quá khứ bao gồm tranh chấp biên giới đất liền, tranh chấp phân định vịnh Bắc Bộ và các vấn đề hàng hải. Hiện tại, các tranh chấp biên giới đất liền và phân định vịnh Bắc Bộ đã được giải quyết thỏa đáng và chỉ còn biển là tranh chấp duy nhất chưa được giải quyết.

Cần nhấn mạnh rõ các tranh chấp biên giới lãnh thổ về cơ bản đã được giải quyết thông qua đàm phán hòa bình, hai bên đã chia đều vùng tranh chấp, tranh chấp tại Vịnh Bắc Bộ được giải quyết có lợi cho quyền lợi quốc gia của Việt Nam. Những minh chứng trên cho thấy rằng chính phủ và người dân hai nước có thể tìm ra những biện pháp giải quyết các bất đồng, đồng thời cho thấy Trung Quốc luôn sẵn sàng tìm kiếm giải pháp cho các vấn đề. Điều này thể hiện rằng trong quá trình giải quyết các bất đồng giữa Việt Nam và Trung Quốc, phía Việt Nam cũng đã cảm nhận rõ sự chân thành và thiện chí của Trung Quốc. Sau khi giải quyết các tranh chấp biên giới đất liền và phân định Vịnh Bắc Bộ, những khác biệt giữa hai nước đã giảm đáng kể so với trước đây, nhưng cũng phải biết rằng các tranh chấp hàng hải phức tạp hơn nhiều so với hai tranh chấp trước đây và sẽ cần thêm thời gian để đạt được giải pháp toàn diện. Cả hai bên nên kiên nhẫn suy xét về vấn đề này và không nên để những khác biệt một phần ảnh hưởng đến sự phát triển của tình hữu nghị chung giữa hai nước.

Hiện tại, quan hệ Việt Nam – Trung Quốc đang ở trạng thái tốt nhất kể từ năm 1991 và tình hữu nghị giữa hai nước là nguyện vọng chung, phù hợp với lợi ích chung của nhân dân hai nước. Tuy nhiên, ngày nay một số quốc gia vẫn duy trì tư duy Chiến tranh Lạnh, liên tục kích động đối đầu địa chính trị và thậm chí cố gắng lôi kéo các quốc gia khác làm công cụ địa chính trị nhằm bao vây và kiềm chế Trung Quốc. Dù vậy, khó có thể thay đổi quan hệ hữu nghị Trung-Việt, nhưng cả Trung Quốc và Việt Nam nên nắm rõ mưu đồ của các thế lực bên ngoài. Cả hai bên cần tiến về phía nhau, thể hiện tư duy chiến lược, phát huy thiện chí hơn, tập trung vào mục tiêu lâu dài, nhìn nhận quan hệ giữa hai nước từ góc độ chiến lược, không bị mê hoặc bởi lợi ích nhỏ nhặt trước mắt, không bị lung lay bởi sự xúi giục từ các thế lực bên ngoài, và tiếp tục thúc đẩy sự phát triển hơn nữa của tình hữu nghị Trung Quốc – Việt Nam.

Nguyễn Phương Ngân là ứng viên cộng tác với Dự án Đại Sự Ký Biển Đông. Bản dịch có sự hỗ trợ của Nguyễn Huy Hoàng, cộng tác viên Dự án Đại Sự Ký Biển Đông. Có thể đọc bài viết gốc ở đây. Bản dịch tiếng Anh ở đây.

Nguyên tắc hoạt động của Dự án Đại Sự Ký Biển Đông.

—————

Dự án Đại Sự Ký Biển Đông tồn tại dựa trên tài trợ của cộng đồng. Nếu quý độc giả muốn có một nguồn thông tin tri thức khách quan, đa chiều, hệ thống hoá và có chiều sâu chuyên môn, dựa trên dữ liệu (facts-based), Dự án Đại Sự Ký Biển Đông là một địa chỉ mà mọi người có thể tin tưởng. Hãy chung tay cùng với chúng tôi duy trì Dự án bằng cách tài trợ cho Dự án, và khuyến khích bạn bè, đồng nghiệp cùng tài trợ Dự án. Xem hướng dẫn tài trợ ở đây: https://dskbd.org/tai-tro-cho-du-an/. Báo cáo tài chính sẽ được tổng kết vào cuối năm. Chúng tôi xin trân trọng cảm ơn.

Leave a comment

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.