Xoay Chuyển Cục Diện: Trung Quốc Tìm Cách Thiết Lập Luật Chơi Trên Biển

Tác giả: Peter Dutton | Brookings ngày 2 tháng 9 năm 2026

Biên dịch: Lê Thảo Quỳnh | Hiệu đính: Phạm Thanh Vân | Dự án Đại Sự Ký Biển Đông

Lực lượng tuần duyên và cảnh sát biển của Philippines, Nhật Bản và Hoa Kỳ tham gia diễn tập tình huống thực thi pháp luật trên Biển Đông. Nguồn ảnh: DVIDS

Gần đây, một số tuyên bố đáng chú ý về chương trình nghị sự hàng hải của Trung Quốc đã xuất hiện từ các viện nghiên cứu có mối liên hệ trực tiếp với chính phủ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (CHND Trung Hoa). Cùng với làn sóng các tuyên bố chính thức và bán chính thức khác của Trung Quốc, những tuyên bố này cho thấy các nhà lãnh đạo Trung Quốc nhận thấy đang tồn tại một “cửa sổ cơ hội” để thúc đẩy các lợi ích hàng hải và an ninh của Trung Quốc, gia tăng sức ép trên biển đối với các bên có yêu sách cạnh tranh, đồng thời khẳng định vai trò lãnh đạo lớn hơn đối với luật pháp quốc tế về biển, ở cả cấp độ khu vực và toàn cầu.

Trung Quốc phát tín hiệu về một chương trình nghị sự hàng hải quyết đoán hơn

Chẳng hạn, vào tháng 6, Viện Nghiên cứu Các vấn đề Hàng hải Trung Quốc (China Institute for Marine Affairs – CIMA), một viện nghiên cứu nội bộ thuộc Bộ Tài nguyên Thiên nhiên Trung Quốc, đã công bố một báo cáo. CIMA từ lâu đã được biết đến với vai trò tích cực trong việc tham gia hoạch định chính sách của Trung Quốc ở Biển Đông. Báo cáo này ca ngợi một số thành tựu của Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển (UNCLOS), đồng thời trình bày chi tiết nhiều vấn đề mà Trung Quốc cho là bất cập hoặc gây quan ngại. Báo cáo khẳng định rằng thời kỳ Trung Quốc giữ thế bị động trong vấn đề luật biển đã chấm dứt.

Dẫn lại “những biến đổi to lớn chưa từng thấy trong một thế kỷ” và sự thay đổi trong cán cân quyền lực toàn cầu, báo cáo kêu gọi “cải cách và hoàn thiện” các quy định pháp luật điều chỉnh lĩnh vực hàng hải. Báo cáo đề xuất “điều chỉnh trật tự pháp lý trên biển cho phù hợp với những thực tế đang thay đổi”, đồng thời cho rằng những biến động trong tương quan quyền lực toàn cầu đã tạo ra “không gian cho sự phát triển hơn nữa của luật pháp quốc tế về biển”.

Giọng điệu của báo cáo cho thấy rõ rằng sự phát triển này phải tính đến lợi ích của Trung Quốc nhiều hơn, bởi sức mạnh mới gia tăng đã mang lại cho Trung Quốc quyền chủ động hơn trong việc xây dựng các quy tắc. Chẳng hạn, trong một động thái phản đối lộ liễu đối với các hoạt động của hải quân Hoa Kỳ ở Đông Á, báo cáo chỉ trích “một số quốc gia [đã] cố tình diễn giải sai học thuyết ‘tự do trên biển’, [và] lạm dụng khái niệm ‘tự do hàng hải'”.

Báo cáo kết luận rằng luật pháp quốc tế “không chỉ bao hàm sự tồn tại của các quy tắc, mà còn đòi hỏi các quy tắc đó phải phù hợp với những nguyên tắc và giá trị cao hơn”. Dĩ nhiên, những “nguyên tắc và giá trị cao hơn” này sẽ là các nguyên tắc và giá trị của Trung Quốc. Đồng thời, báo cáo kêu gọi sự ủng hộ của các quốc gia đang phát triển và những nước quan tâm đến “chủ nghĩa đa phương thực chất” nhằm hỗ trợ thúc đẩy các nỗ lực của Trung Quốc.

Tương tự, vào tháng 7, Ngô Sỹ Tồn đã đưa ra những phát biểu đáng chú ý trong một cuộc phỏng vấn với South China Morning Post. Cuộc phỏng vấn này đáng chú ý ở chỗ nó cho thấy chính sách của Bắc Kinh đối với Biển Đông có thể sắp chuyển sang một hướng đối đầu hơn. Ngô là người có vị trí thuận lợi để đưa ra nhận định này, vì ông là thành viên của Nhóm Cố vấn Chính sách Đối ngoại thuộc Bộ Ngoại giao Trung Quốc và đứng đầu một viện nghiên cứu có trụ sở tại Hải Nam do Bộ Ngoại giao tài trợ.

Ngô mô tả Bắc Kinh trước đây ở thế “bị động” và cho rằng bất kỳ hành động cứng rắn nào của Trung Quốc trong quá khứ cũng chỉ là phản ứng trước những hành động khiêu khích của Philippines và Hoa Kỳ. Tuy nhiên, hiện nay, ông cho biết Bắc Kinh đã chuyển sang “điều chỉnh chiến lược đối phó” để trở nên “chủ động hơn nữa trong tương lai”, bởi “các bên có yêu sách cạnh tranh”, mà ông chỉ đích danh Philippines và Việt Nam với sự hỗ trợ của Nhật Bản và Hoa Kỳ, “đang tìm cách liên kết để đối phó với Trung Quốc”.

Đáp lại, ông nói rằng “Bắc Kinh có trong tay một loạt biện pháp đối phó toàn diện” và “thời kỳ Trung Quốc bị trói tay đã qua”. Cụ thể, ông đe dọa rằng “nếu những thách thức trong tương lai khiến việc thực thi pháp luật của chúng ta trở nên khó khăn”, Bắc Kinh có thể xây dựng các cơ sở vĩnh viễn tại bãi cạn Scarborough, thực thể ở Biển Đông đã dẫn tới vụ kiện trọng tài do Philippines khởi xướng năm 2013 và hiện vẫn được Philippines tuyên bố chủ quyền.

Tại Manila, động thái này được nhìn nhận là một mối đe dọa trực tiếp đối với an ninh của Philippines, bởi nếu Trung Quốc xây dựng công trình tại thực thể này, nước này có thể triển khai sức mạnh hàng hải chỉ cách đảo Luzon khoảng 120 hải lý và cách thủ đô Philippines chỉ hơn 200 hải lý. Căng thẳng giữa Philippines và Trung Quốc nhiều lần gia tăng tại bãi cạn Scarborough, cũng như xa hơn về phía nam ở quần đảo Trường Sa (Spratly Islands), nơi Trung Quốc đã có các cơ sở quân sự chỉ cách đảo Palawan của Philippines hơn 120 hải lý.

“Loạt biện pháp đối phó” mà Bắc Kinh đề cập rõ ràng bao gồm cả các biện pháp mang tính hoạt động thực địa lẫn pháp lý.

Ngoài việc cùng đề cập đến luật pháp quốc tế về biển, báo cáo của CIMA và cuộc phỏng vấn Ngô có ít nhất ba điểm chung. Thứ nhất, cả hai đều truyền tải cảm giác rằng một giai đoạn chủ động hành động đang cận kề, trong đó Trung Quốc sẽ tìm cách điều chỉnh các quy tắc quốc tế theo hướng phục vụ lợi ích hàng hải của mình, đồng thời thiết lập những chính sách pháp lý mang tính chủ động nhằm hỗ trợ các lợi ích đó. Thứ hai, chúng cho thấy ít nhất một bộ phận ở Trung Quốc nhận thấy tình hình chính trị toàn cầu hiện nay, có lẽ được thúc đẩy thêm bởi thỏa thuận gần đây giữa Tổng thống Donald Trump và Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình về việc xây dựng “một mối quan hệ ổn định chiến lược mang tính xây dựng”, đang tạo cho Trung Quốc cơ hội đạt được những lợi ích trên biển với chi phí thấp. Thứ ba, chúng cho thấy Trung Quốc sẽ tiếp tục sử dụng, và thậm chí có thể đẩy nhanh, các hoạt động chủ động trên thực địa ở biển nhằm song hành với hoạt động chủ động về pháp lý trên phương diện chính trị quốc tế.

Sự đáp ứng của các thể chế trong nước?

Có nhiều khả năng lý giải tại sao hoạt động chủ động về pháp lý này lại gia tăng trong những tháng gần đây. Một khả năng là thời điểm xuất hiện các động thái này đơn giản chỉ phản ánh sự đáp ứng của bộ máy hành chính đối với những chính sách chung được các nhà lãnh đạo cấp cao nhất của Trung Quốc đề ra trong vài năm qua. Thời điểm của các tuyên bố này có thể phản ánh quá trình vận hành chậm chạp của bộ máy hành chính không kém gì đánh giá của Bắc Kinh về tình trạng hiện tại của cán cân quyền lực toàn cầu và những cơ hội chính trị đang mở ra.

Một trong những chính sách đầu tiên có liên quan mà các diễn biến hiện nay có thể bắt nguồn từ đó là sáng kiến Pháp quyền trong các vấn đề đối ngoại (Foreign Related Rule of Law – FRRL). Mặc dù phần lớn FRRL tập trung vào việc sửa đổi hệ thống pháp luật trong nước của Trung Quốc nhằm phục vụ tốt hơn các mục tiêu phát triển, nhưng trong một bài phát biểu tại một phiên học tập của Bộ Chính trị vào tháng 12 năm 2021, Tập Cận Bình đã làm rõ rằng sáng kiến này cũng nhằm thúc đẩy an ninh quốc gia và chủ quyền của Trung Quốc. Tập Cận Bình cho rằng: “Thế giới đã bước vào một thời kỳ biến động và chuyển đổi, trong đó cạnh tranh quốc tế ngày càng biểu hiện dưới dạng cuộc cạnh tranh về thể chế, quy tắc và pháp luật.”

Gần đây hơn, Sáng kiến An ninh Toàn cầu (Global Security Initiative – GSI) và Sáng kiến Quản trị Toàn cầu (Global Governance Initiative – GGI) của Tập Cận Bình nhận định rằng “cục diện quốc tế hiện nay đang trải qua những thay đổi và biến động”, với “nhiều rủi ro và thách thức hiếm thấy trước đây”, đồng thời cam kết “thúc đẩy xây dựng một hệ thống quản trị toàn cầu công bằng và bình đẳng hơn”. Cả Ngô và báo cáo của CIMA đều trực tiếp viện dẫn những sáng kiến này, qua đó củng cố khả năng rằng hoạt động chủ động về pháp lý gần đây của các bộ ngành và viện nghiên cứu Trung Quốc chính là sự đáp ứng về mặt thể chế, đã được hình thành theo thời gian, đối với những chính sách cấp cao đã được công bố trước đó.

Hay là một “cửa sổ cơ hội”?

Tuy nhiên, một cách giải thích có khả năng đúng hơn nhiều là các nhà lãnh đạo Trung Quốc thực sự nhìn nhận giai đoạn hiện nay như một “cửa sổ cơ hội”, trong đó các hoạt động chủ động về pháp lý của Bắc Kinh có thể đạt hiệu quả cao hơn so với trước đây. Một lý do có thể là họ đánh giá rằng trong số “những biến đổi to lớn chưa từng thấy trong một thế kỷ” có sự dịch chuyển cán cân quyền lực toàn cầu và khu vực theo hướng có lợi cho Trung Quốc. Một lần nữa, sức mạnh quân sự của Hoa Kỳ  dường như đang bị sa lầy trong một cuộc xung đột kéo dài ở Trung Đông, khiến các tàu chiến quan trọng của Hải quân Hoa Kỳ bị hao mòn, làm trầm trọng thêm những vấn đề về khả năng sẵn sàng chiến đấu vốn tồn tại từ lâu của Hải quân Hoa Kỳ, đồng thời làm suy giảm đáng kể kho vũ khí của Hoa Kỳ, những nguồn lực cần thiết để răn đe các hoạt động chủ động của Trung Quốc ở Biển Đông.

Các nhà tư tưởng chiến lược của Trung Quốc nhận thấy rõ sự suy yếu này. Quan điểm của họ phù hợp với định hướng chiến lược ở cấp cao nhất, theo đó những thay đổi về tương quan quyền lực đang diễn ra đã tạo cho Trung Quốc một “cửa sổ” để thúc đẩy quan điểm của mình về việc áp dụng luật pháp quốc tế trong lĩnh vực hàng hải. Từ lâu, họ đã phàn nàn rằng tình trạng hiện tại của luật pháp quốc tế chẳng làm được gì nhiều ngoài việc bảo vệ lợi ích của bá quyền phương Tây. Chẳng hạn, đây chính là nguồn gốc của những lời phàn nàn thường xuyên từ các quan chức và giới tư tưởng Trung Quốc về quan điểm của Hoa Kỳ đối với tự do trên biển và quyền hoạt động của hải quân mà không bị cản trở ở bất kỳ khu vực nào nằm ngoài dải lãnh hải hẹp của các quốc gia khác. Những nhà bình luận Trung Quốc này cho rằng Trung Quốc buộc phải thích ứng với luật pháp quốc tế về biển như nó đang tồn tại, thay vì thực sự có cơ hội thiết lập một hệ thống luật pháp phù hợp với lợi ích của mình. Tuy nhiên, một báo cáo hồi tháng 5 của một viện nghiên cứu nội bộ thuộc Bộ An ninh Quốc gia Trung Quốc cho rằng giờ là lúc Bắc Kinh phải chủ động khẳng định vị thế của mình.

Báo cáo của Viện Quan hệ Quốc tế Đương đại Trung Quốc (Chinese Institutes for Contemporary International Relations – CICIR) mô tả tình hình thế giới là đang “trải qua những biến đổi được đẩy nhanh”, trong đó “trật tự cũ đang tan rã trong khi trật tự mới vẫn chưa được thiết lập”. Theo báo cáo, điều này bắt nguồn từ hai yếu tố. Một mặt, “Hoa Kỳ… đã bắt đầu quay lưng với hệ thống do chính mình tạo ra”, đồng thời sức mạnh cứng và sức mạnh mềm của Hoa Kỳ đã suy giảm. Cụ thể, báo cáo cho rằng Trung Quốc đã đạt được những tiến bộ về kinh tế, khoa học và đổi mới công nghệ, cũng như sức mạnh quân sự. Những tiến bộ này đã dẫn đến “sự thay đổi về tương quan sức mạnh” giữa hai quốc gia hùng mạnh nhất thế giới và tạo ra “một giai đoạn mới của thế giằng co chiến lược”.

Trong giai đoạn này, các nhà tư tưởng chiến lược Trung Quốc cho rằng không quốc gia nào trong hai nước có thể áp đảo quốc gia kia, và cả hai giờ đây phải coi bên còn lại là một “đối thủ đáng được tôn trọng”, đồng thời phải hợp tác với nhau để đạt được các mục tiêu của mình. Nói cách khác, họ tin rằng sức mạnh của Trung Quốc hiện đã ngang hàng với sức mạnh của phương Tây, và một “cửa sổ cơ hội” đã mở ra để Trung Quốc thúc đẩy các lợi ích hàng hải của mình.

Cuộc tấn công nhằm định hình các chuẩn mực của Trung Quốc

Xét đến tầm quan trọng của sáng kiến Pháp quyền trong các vấn đề đối ngoại (FRRL), Sáng kiến An ninh Toàn cầu (GSI) và Sáng kiến Quản trị Toàn cầu (GGI), có lẽ việc guồng máy hành chính Trung Quốc dẫn đến sự gia tăng các hoạt động chủ động về pháp lý của Trung Quốc là điều khó tránh khỏi. Tuy nhiên, sự rõ ràng trong báo cáo của CICIR cho thấy rất mạnh mẽ rằng các nhà lãnh đạo Trung Quốc cũng nhìn nhận giai đoạn hiện nay là “cửa sổ cơ hội” mà họ cần để các hoạt động chủ động về pháp lý đạt được thành công lớn hơn. Một sách trắng chính thức khác của Trung Quốc cũng củng cố mạnh mẽ cách lý giải này. Được Quốc vụ viện công bố vào tháng 6, sách trắng đề xuất đối phó với “chủ nghĩa đơn phương, chủ nghĩa bảo hộ và chủ nghĩa bá quyền” của phương Tây bằng một hệ thống nguyên tắc mới nhằm xây dựng “một mô hình quản trị toàn cầu mang tính bao trùm, công bằng và bền vững hơn”. Sách trắng mô tả Trung Quốc là “người bảo vệ trật tự quốc tế”, thúc đẩy “cách tiếp cận đặc thù của Trung Quốc nhằm giải quyết các điểm nóng quốc tế”, qua đó hướng tới một xã hội quốc tế công bằng hơn như Bắc Kinh cam kết. Những lý tưởng cao đẹp này có thể chẳng qua chỉ là một nỗ lực nhằm thuyết phục các nước khác nhìn nhận Mỹ như một quốc gia đang hành động bên ngoài khuôn khổ của luật pháp quốc tế, đồng thời đặt Trung Quốc vào một vị thế tương đối tích cực hơn.

Tuy nhiên, đồng thời, Trung Quốc lại hầu như chưa làm gì để cải thiện hình ảnh của chính mình, vốn đã bị tổn hại nghiêm trọng bởi những yêu sách quá mức đến mức cực đoan ở Biển Đông và việc sử dụng vũ lực đối với các nước láng giềng. Việc Trung Quốc không chấp nhận và không tham gia tiến trình trọng tài quốc tế với Philippines, như UNCLOS yêu cầu, có nghĩa là Trung Quốc gần như chắc chắn sẽ không thể thuyết phục nhiều nước láng giềng Đông Nam Á tự nguyện đi theo vai trò dẫn dắt của mình. Bắc Kinh dường như hiểu rõ điều này. Như Lynn Kuok gần đây đã chỉ ra, Trung Quốc đang khẳng định sức mạnh của mình đối với các nước láng giềng phía nam theo những cách “có thể làm thay đổi cục diện chiến lược”, bởi các nước này không có khả năng kiềm chế tham vọng hàng hải của Trung Quốc nếu không có sự hỗ trợ của một cường quốc hàng hải, trong khi những hành động gần đây của Trung Quốc “chỉ nhận được phản ứng rất hạn chế từ Washington”. Kuok cho rằng điều này có thể buộc các bên có yêu sách ở Đông Nam Á phải “áp dụng cách tiếp cận thực dụng hơn” đối với các tranh chấp với Trung Quốc và tìm kiếm một hình thức thỏa hiệp nào đó. Nói cách khác, dường như Trung Quốc đang đánh cược rằng đối với các nước láng giềng Đông Nam Á, sức mạnh sẽ chiếm ưu thế.

Tuy nhiên, trên phạm vi toàn cầu, nếu chiến dịch của Trung Quốc muốn thành công, các nhà lãnh đạo Trung Quốc sẽ cần đưa ra một tầm nhìn về luật pháp quốc tế về biển có tính nhất quán, công bằng và có thể được các quốc gia khác áp dụng, thay vì một hệ thống dường như cho phép Trung Quốc trở thành ngoại lệ đối với những quy tắc mà chính nước này kỳ vọng các quốc gia khác phải tuân thủ. Trung Quốc sẽ cần đưa ra một lập luận về cách thức các quốc gia khác có thể xác lập quyền lịch sử mà vẫn phù hợp với các quy định của UNCLOS. Trung Quốc cũng sẽ cần giải thích một cách hợp lý cách tiếp cận của mình đối với đường cơ sở, tức cơ sở dùng để xác định các vùng biển, bởi đường cơ sở của Trung Quốc nằm trong số những hành vi vi phạm nghiêm trọng nhất các quy tắc của luật pháp quốc tế về biển của bất kỳ quốc gia nào. Có thể đã từng có thời điểm Trung Quốc đạt được một số thành công trong việc thuyết phục các quốc gia ven biển yếu hơn rằng tàu chiến nước ngoài chỉ nên có các quyền hạn chế khi hoạt động ngoài khơi bờ biển của các quốc gia khác. Nhưng do Hải quân Trung Quốc trong những năm gần đây ngày càng hành xử giống một cường quốc hải quân truyền thống, các nhà lãnh đạo Trung Quốc có thể muốn âm thầm giảm sự tập trung vào khía cạnh này của luật pháp quốc tế. Bất chấp những mâu thuẫn đó, chuỗi liên tục các sách trắng, báo cáo và tuyên bố công khai cho thấy rõ rằng giới tư tưởng Trung Quốc, và có lẽ cả các nhà lãnh đạo Trung Quốc, muốn tận dụng thời điểm quốc tế hiện nay để chủ động tấn công trên mặt trận định hình các chuẩn mực.

Tòa án Nhân dân Tối cao Trung Quốc (SPC), một thiết chế ít được chú ý, là một ví dụ điển hình về cách một cơ quan nhà nước chuyển hóa các chỉ đạo cấp cao nhất thành chính sách và thực tiễn nhằm thúc đẩy lợi ích hàng hải của Trung Quốc. Sau khi FRRL và các sáng kiến toàn cầu khác nhau của Tập Cận Bình được công bố, lãnh đạo SPC nhanh chóng mở rộng số lượng tòa án hàng hải của Trung Quốc. Đến năm 2025, Tòa án Nhân dân Tối cao đã phát triển năng lực mới để xét xử các vụ án hàng hải tập trung vào việc “bảo vệ quyền và lợi ích hàng hải quốc gia và tham gia quản trị đại dương toàn cầu”. Trong số đó có việc thành lập một chi nhánh của tòa án tại Biển Đông, trên một đảo đang có tranh chấp thuộc Quần đảo Hoàng Sa (Paracel Islands), và truy tố “10 bị cáo đến từ một quốc gia láng giềng”, nhiều khả năng là Việt Nam, những người đã đến đây để khẳng định quyền đánh bắt cá của mình. Việc thực thi pháp luật trong nước của Trung Quốc tại một vùng biển có tranh chấp củng cố yêu sách chủ quyền của Trung Quốc đối với Quần đảo Hoàng Sa và quyền tài phán của nước này đối với các vùng biển xung quanh, đồng thời làm suy yếu các yêu sách của Việt Nam. Qua đó, đây trở thành một ví dụ về hoạt động chủ động của các thiết chế và những bước tiến về pháp lý mà các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã kêu gọi.

Hệ quả

Nhìn tổng thể, các tuyên bố chính thức và bán chính thức này có ý nghĩa ít nhất trên ba phương diện.

Thứ nhất, giới tư tưởng Trung Quốc đang tích cực hơn trong việc tiếp cận cộng đồng quốc tế với một tầm nhìn về trật tự thế giới trong tương lai, trong đó có một trật tự hàng hải tương lai phản ánh các lợi ích của Trung Quốc. Từ lâu đã tồn tại sự căng thẳng trong luật pháp quốc tế về biển giữa quyền của các quốc gia ven biển trong việc thực thi quyền lực đối với vùng biển ngoài khơi bờ biển của mình và quyền truyền thống của tất cả các quốc gia được hoạt động với mức độ tự do tối đa. Trung Quốc rõ ràng đang sử dụng sức mạnh mới có được để cố gắng nghiêng cán cân theo hướng có lợi cho lợi ích an ninh và tài nguyên của các quốc gia ven biển. Nhiều cường quốc hàng hải, trong đó có Hoa Kỳ, sẽ tiếp tục phản đối những nỗ lực này. Nhưng thay vì là một lĩnh vực mà luật pháp đã được xác lập rõ ràng, các đại dương trên thế giới một lần nữa trở thành một không gian tranh chấp pháp lý sôi động. Kết quả của cuộc tranh chấp này không phải là vấn đề không đáng kể. Những diễn biến gần đây tại biển Baltic, Biển Đen, Đông Địa Trung Hải, Biển Đỏ, Eo biển Hormuz, vịnh Aden và Eo biển Malacca cho thấy các lực lượng hải quân phải có quyền bảo vệ hoạt động thương mại hàng hải và những lợi ích khác ở bất cứ nơi nào trên biển. Nền kinh tế toàn cầu và an ninh của tất cả các quốc gia đều phụ thuộc vào điều đó.

Thứ hai, hoạt động chủ động về pháp lý của Trung Quốc đã song hành với sự gia tăng các hoạt động hàng hải trên thực địa, đặc biệt là ở Biển Đông. Hải quân Trung Quốc ngày càng hùng mạnh, lực lượng hải cảnh có quy mô lớn và năng lực cao, cùng một đội tàu dân sự khổng lồ đang phối hợp với nhau để gây sức ép rất lớn lên các bên có yêu sách trong khu vực, buộc họ phải nhượng bộ trước các yêu sách của Trung Quốc. Việc Trung Quốc đẩy nhanh hoạt động chủ động về pháp lý cho thấy nước này đang tìm cách biện minh và hợp pháp hóa sự quyết đoán ngày càng gia tăng ở Biển Đông, đồng thời giữ các quốc gia khác ở bên ngoài các tranh chấp này.

Cuối cùng, xét trên phạm vi rộng hơn, những lời kêu gọi của Trung Quốc nhằm tạo không gian cho các quan điểm của mình về luật pháp quốc tế về thực chất là một yêu sách về quyền lãnh đạo trong khu vực và một tuyên bố rằng Trung Quốc sẽ khẳng định vai trò lãnh đạo toàn cầu ở những nơi có thể. Hoạt động chủ động về pháp lý nhằm xây dựng các quy tắc tương tác giữa một nhóm quốc gia nhất định. Đối với Đông Nam Á, những “quy tắc” này về cơ bản là sự khẳng định của Trung Quốc rằng, với tư cách là quốc gia hùng mạnh nhất trong khu vực, Trung Quốc chứ không phải phương Tây sẽ là bên thiết lập trật tự khu vực. Trên phạm vi toàn cầu, phương Tây có thể sớm trở thành bên phải ở thế phòng thủ khi nói đến việc thiết lập các quy tắc. Do đó, tất cả các quốc gia cần chuẩn bị để chủ động ứng phó với tâm lý ngày càng lớn của Trung Quốc rằng mình đương nhiên có quyền khẳng định ảnh hưởng đối với luật pháp quốc tế.

Peter Dutton là học giả nghiên cứu cấp cao về luật và nghiên cứu viên cấp cao tại Trung tâm Trung Quốc Paul Tsai thuộc Trường Luật Yale. Lê Thảo Quỳnh và TS. Phạm Thanh Vân lần lượt là cộng tác viên thử việc và thành viên Dự án Đại Sự Ký Biển Đông. Bài viết gốc được đăng ở đây.

Nguyên tắc hoạt động của Dự án Đại Sự Ký Biển Đông.

—————

Dự án Đại Sự Ký Biển Đông tồn tại dựa trên tài trợ của cộng đồng. Nếu quý độc giả muốn có một nguồn thông tin tri thức khách quan, đa chiều dựa trên chiều sâu chuyên môn và dữ liệu có hệ thống, Dự án Đại Sự Ký Biển Đông là một địa chỉ mà mọi người có thể tin tưởng.

Mỗi khoản tài trợ giúp chúng tôi duy trì nhân sự nghiên cứu độc lập, cập nhật chuyển động trên biển và những tác động an ninh kinh tế, và mở rộng cơ sở dữ liệu tri thức về Biển Đông. Hãy chung tay cùng với chúng tôi duy trì Dự án bằng cách tài trợ cho Dự án, và khuyến khích bạn bè, đồng nghiệp cùng tài trợ Dự án. Xem hướng dẫn tài trợ ở đây: https://dskbd.org/tai-tro-cho-du-an/. Chúng tôi công khai báo cáo tài chính tóm tắt mỗi năm và báo cáo đầy đủ vào cuối mỗi hai năm. Chúng tôi xin trân trọng cảm ơn.

Leave a comment

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.