Lập Trường Của Trung Quốc Tại Các Vòng Đàm Phán UNCLOS Và Hàm Ý Cho Việt Nam

Nhóm tác giả: Nguyễn Hoàng Trang và cộng sự | Thiết kế và hướng dẫn: Phạm Thanh Vân | Dự án Đại Sự Ký Biển Đông

Ảnh chỉ có tính chất minh hoạ. Ảnh được tạo bởi trí tuệ nhân tạo

Bài viết “The UNCLOS Conferences and China’s Safeguarding of Its Maritime Rights and Interests” (2012) được công bố bởi Quách Uyên (郭渊,Guo Yuan), thời điểm đó là giảng viên tại Đại học Cáp Nhĩ Tân (Heilongjiang University, Trung Quốc).[1] Mặc dù không phải là quan chức ngoại giao cấp cao hay chuyên gia pháp lý tầm cỡ quốc tế, bài báo của Quách Uyên có giá trị đại diện cho dòng diễn ngôn lịch sử chính thống được lưu hành trong nội bộ học thuật Trung Quốc. Những tư liệu được sử dụng cho bài viết của ông dựa chủ yếu trên nguồn báo chí, văn kiện chính thức của Trung Quốc ngay tại thời điểm diễn ra sự kiện (thời kỳ 1970–1980), các giáo trình và chuyên khảo luật biển do học giả Trung Quốc viết, và những nguồn luật quốc tế kinh điển.

Việc tìm hiểu tài liệu này bởi vậy có thể giúp nhận diện cách giới học giả Trung Quốc kiến tạo “tính chính danh lịch sử” cho các yêu sách biển của Bắc Kinh, bao gồm phục vụ dư luận nội địa, đào tạo cán bộ, và biện minh cho các lập trường tại bàn đàm phán. Đây là một tham chiếu quan trọng có thể giúp chúng ta hiểu logic nội tại đằng sau những gì Trung Quốc lập luận về yêu sách biển của mình.

I. Những nội dung đáng chú ý

Bài viết phân tích chi tiết các lập trường ngoại giao và pháp lý của chính phủ Trung Quốc trong quá trình đàm phán UNCLOS vào những năm 1970 và 1980. Tác giả phác họa hình ảnh Trung Quốc như đại diện của các nước đang phát triển, đấu tranh chống lại “bá quyền hàng hải” của các siêu cường (Hoa Kỳ, Liên Xô). Thông qua việc đóng góp vào các quy định về lãnh hải 12 hải lý, EEZ 200 hải lý, chế độ thềm lục địa độc lập và quyền kiểm soát nghiên cứu khoa học biển, Trung Quốc đã tận dụng diễn đàn UNCLOS để thiết lập một trật tự pháp lý mới, đồng thời kiên quyết bảo vệ yêu sách đối với các vùng biển và hải đảo tranh chấp. Trong phần kết luận, tác giả đưa ra quan điểm rằng bản thân UNCLOS là sản phẩm thỏa hiệp chứa nhiều điều khoản mơ hồ, dẫn đến việc các quốc gia luôn diễn giải nó theo hướng có lợi nhất cho mình.

1. Lãnh hải, đường cơ sở và quyền đi qua vô hại

Ngay từ năm 1958, trước khi tham gia UNCLOS III, Trung Quốc đã tuyên bố lãnh hải 12 hải lý và áp dụng quy định này cho “toàn bộ lãnh thổ Trung Quốc, bao gồm Đài Loan và các đảo lân cận, quần đảo Đông Sa, Tây Sa (Hoàng Sa), Trung Sa, Nam Sa (Trường Sa) và các đảo khác thuộc Trung Quốc.” Đây là tuyên bố chủ quyền có hệ thống, được lồng ghép vào lập trường đàm phán UNCLOS ngay từ vòng đầu tiên.

Tại các hội nghị, Trung Quốc bảo vệ quyền của quốc gia ven biển tự xác định chiều rộng lãnh hải “dựa trên điều kiện địa lý, nhu cầu an ninh và phát triển kinh tế.” Đặc biệt, Trung Quốc lập luận rằng “quần đảo hoặc nhóm đảo gần nhau có thể được coi là một đơn vị thống nhất khi vạch đường lãnh hải.” Đây là tiền thân của tư duy đường cơ sở thẳng mà Trung Quốc áp dụng quanh Quần đảo Hoàng Sa năm 1996 và có thể tiến tới là Quần đảo Trường Sa khi có cơ hội phù hợp.

Về quyền đi qua vô hại, Trung Quốc và 20 quốc gia đang phát triển nhiều lần đề xuất yêu cầu tàu chiến nước ngoài phải xin phép trước (prior approval) khi qua lãnh hải. Đề xuất này không được chấp thuận. Văn bản UNCLOS cuối cùng chỉ nêu quyền đi qua vô hại cho “tàu thuyền của mọi quốc gia.” Khi phê chuẩn UNCLOS năm 1996, Trung Quốc bảo lưu rằng điều khoản này “không cản trở quốc gia ven biển yêu cầu tàu chiến nước ngoài xin phép trước theo luật nội địa.”

Có thể thấy hai điểm trên, (1) gộp quần đảo thành đơn vị vạch đường cơ sở, và (2) yêu cầu tàu chiến xin phép, là nền tảng pháp lý cho một số hành vi Trung Quốc tại Biển Đông hiện nay đã được Bắc Kinh xây dựng từ hơn 50 năm trước và không có ý định từ bỏ hay điều chỉnh.

2. Phân định ranh giới biển

Vào tháng 3 năm 1972, đại diện An Trí Uyên (An Zhiyuan) lần đầu tiên nêu nguyên tắc phân định ranh giới biển dựa trên tham vấn bình đẳng: “Việc xác định phạm vi quyền trong lãnh hải thuộc chủ quyền của mỗi quốc gia. Mỗi quốc gia ven biển có quyền, trên cơ sở điều kiện địa lý của mình, có tính đến nhu cầu an ninh và lợi ích kinh tế quốc gia, xác định hợp lý phạm vi lãnh hải và quyền tài phán, và phải tính đến việc các quốc gia tiếp giáp cùng vùng biển phải phân định ranh giới lãnh hải trên cơ sở bình đẳng và công bằng.”

Bản đề xuất lập trường của phái đoàn Trung Quốc về các vùng biển thuộc quyền tài phán quốc gia (Working Document on the Maritime Domains Under State Jurisdiction) được Trung Quốc đệ trình năm 1973 có nội dung như sau: Các quốc gia ven biển trong cùng khu vực tham vấn bình đẳng để xác định chiều rộng hoặc giới hạn chung cho lãnh hải. Các quốc gia láng giềng hoặc đối diện phân định thềm lục địa trên cơ sở tôn trọng chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và bình đẳng, có đi có lại. Các quốc gia có thềm lục địa chung cùng xác định ranh giới qua tham vấn bình đẳng. Các quốc gia ven biển láng giềng hoặc đối diện cùng phân định EEZ qua tham vấn bình đẳng.

Vào tháng 4 năm 1978, khi tranh cãi nổ ra giữa “nguyên tắc công bằng” và “nguyên tắc đường trung tuyến,” đại diện Trung Quốc phát biểu: “Việc phân định ranh giới biển liên quan đến chủ quyền và lợi ích sống còn của các quốc gia; do đó, cả hai bên nên tham vấn và cùng xác định kết quả thỏa mãn lẫn nhau trên cơ sở nguyên tắc công bằng và hợp lý, có tính đến mọi hoàn cảnh liên quan… Đường trung tuyến hoặc đường cách đều chỉ là một phương pháp. Không nên tuyên bố đây là phương pháp bắt buộc, và càng không nên biến đây thành nguyên tắc. Nguyên tắc cơ bản phải là nguyên tắc công bằng và hợp lý. Trong một số tình huống nhất định, nếu phương pháp đường trung tuyến tạo ra ranh giới công bằng hợp lý, các quốc gia liên quan có thể ký kết và thực thi hiệp định. Tuy nhiên, Trung Quốc phản đối việc một bên đơn phương áp đặt đường trung tuyến lên bên kia khi chưa có thỏa thuận ranh giới.”

Tại cuộc họp UNCLOS cuối cùng, trưởng đoàn đại biểu Hàn Tự (Han Xu) phát biểu: “Về định nghĩa thềm lục địa và các nguyên tắc phân định ranh giới biển cho thềm lục địa và EEZ giữa các quốc gia láng giềng và đối diện, các quy định liên quan trong UNCLOS có những thiếu sót. Đoàn đại biểu Trung Quốc đã bày tỏ lập trường nguyên tắc của mình về những vấn đề này.” Tuyên bố của Hàn Tự phản ánh một chiến lược có tính toán dài hạn và bền vững qua thời gian: Trung Quốc chấp nhận UNCLOS như một chỉnh thể toàn vẹn, nhưng đồng thời báo hiệu rằng Trung Quốc sẽ vận dụng tối đa các cơ chế ngoại lệ mà Công ước cho phép, đặc biệt là quyền loại trừ tranh chấp phân định biển khỏi tài phán bắt buộc theo Điều 298, mà Bắc Kinh đã hiện thực hoá vào năm 2006.

Tác giả cho rằng phần lớn văn bản cuối cùng trong UNCLOS, để cân bằng lợi ích các bên, đã sử dụng ngôn ngữ mơ hồ. Điều 74 và 83 UNCLOS quy định việc phân định EEZ và thềm lục địa “sẽ được thực hiện bằng thỏa thuận trên cơ sở luật pháp quốc tế… nhằm đạt được giải pháp công bằng.” Quách Uyên diễn giải rằng quy định này cung cấp phương tiện giải quyết hòa bình nhưng thiếu tiêu chuẩn chặt chẽ, dẫn đến các nhóm lợi ích khác nhau diễn giải theo chiều hoàn toàn đối lập. Ông trích dẫn một học giả Hoa Kỳ, Jonathan Charney, để hậu thuẫn cho diễn giải của mình, “UNCLOS có hiệu lực chỉ có tác động cực kỳ hạn chế đối với việc phân định ranh giới biển.”

Trong vấn đề phân định ranh giới biển với các nước láng giềng, Trung Quốc có thể sử dụng “nguyên tắc công bằng” như công cụ pháp lý chiến lược nhằm khắc phục những bất lợi địa lý, đưa các yếu tố ngoài UNCLOS như quyền lịch sử vào bàn đàm phán. Lấy cớ “giải pháp công bằng phải đạt qua đồng thuận,” Trung Quốc kiên quyết từ chối thẩm quyền của toà án quốc tế và ép các bên mà Trung Quốc đang tranh chấp phải đàm phán song phương, nơi Trung Quốc có lợi thế của một nước lớn hơn. 

3. Lập trường của Chính phủ Trung Quốc về nghiên cứu khoa học biển

Lập trường cơ bản của Trung Quốc về nghiên cứu khoa học biển (MSR) hình thành từ các cuộc họp của Ủy ban Đáy biển năm 1973. Ngày 2 tháng 4 năm 1973, đại diện Thẩm Vĩ Lương (Shen Weiliang) trình bày năm nguyên tắc trung tâm:

1. Quốc gia ven biển có chủ quyền hoàn toàn đối với lãnh hải; tàu thuyền nước ngoài không được tiến hành bất kỳ nghiên cứu nào nếu không có phép.

2. Trong EEZ, vùng đánh cá và vùng tài phán tiếp giáp, người nước ngoài muốn nghiên cứu MSR phải xin phép trước và tuân thủ luật nội địa của quốc gia ven biển.

3. Quốc gia ven biển có quyền tham gia, thu thập mẫu vật từ nghiên cứu nước ngoài trong vùng của mình; việc công bố kết quả phải được quốc gia ven biển chấp thuận trước.

4. Đáy biển ngoài vùng tài phán quốc gia thuộc về nhân dân toàn thế giới; nghiên cứu ở đây phải do tổ chức quốc tế quản lý.

5. Hợp tác MSR quốc tế cần được thực hiện trên cơ sở bình đẳng nghiêm ngặt giữa các quốc gia.

Ngày 19 tháng 7 năm 1973, Trung Quốc đệ trình bản đề xuất về nghiên cứu khoa học biển, trong đó đại diện Vương Đức Chiêu (Wang Dezhao) giải thích: quản lý MSR không nhằm cản trở khoa học, mà để ngăn nghiên cứu khoa học trở thành độc quyền của các cường quốc bá quyền và tránh các siêu cường chiếm đoạt tài nguyên đáy biển.

Ngày 9 tháng 4 năm 1976, Trung Quốc bác bỏ đề xuất phân biệt giữa nghiên cứu “liên quan tài nguyên” và “không liên quan tài nguyên,” lập luận: “Một số cường quốc, lấy cớ ‘nghiên cứu không liên quan đến tài nguyên,’ sẽ ngang nhiên xâm nhập vào vùng nước thuộc quyền tài phán của các quốc gia ven biển và tiến hành các hoạt động bất hợp pháp, lợi dụng kết quả nghiên cứu phục vụ cho bá quyền hàng hải.” Trong tư duy của Trung Quốc, dữ liệu biển có bản chất kép (dual-use) cố hữu: Nghiên cứu khoa học biển “luôn luôn liên quan đến an ninh, lợi ích kinh tế và tài nguyên biển của quốc gia ven biển,” do đó không thể có ranh giới khách quan giữa nghiên cứu “thuần túy khoa học” và nghiên cứu “phục vụ lợi ích chiến lược.” 

UNCLOS cuối cùng cho phép quốc gia ven biển quy định, cấp phép và tiến hành MSR trong EEZ và thềm lục địa của mình (Điều 56 và 246). Tuy nhiên, UNCLOS không định nghĩa thế nào là “sử dụng vì mục đích hòa bình,” tạo ra khoảng trống pháp lý mà Quách Uyên cho rằng các cường quốc hàng hải có thể lợi dụng để tiến hành hoạt động quân sự-trinh sát dưới danh nghĩa nghiên cứu khoa học. 

Từ tư duy về bản chất kép của dữ liệu biển của Trung Quốc, có thể thấy các chiến dịch triển khai tàu nghiên cứu khoa học biển của Trung Quốc tới vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam và các quốc gia Đông Nam Á khó chỉ đơn thuần vì “mục đích hòa bình”.

4. Sử dụng diễn đàn quốc tế để khẳng định chủ quyền lãnh thổ

Bên cạnh việc định hình các quy tắc chung của UNCLOS, Quách Uyên còn cho thấy cách Bắc Kinh tận dụng các diễn đàn quốc tế và khu vực Châu Á – Thái Bình Dương để trực tiếp lồng ghép yêu sách chủ quyền đối với Hoàng Sa và Trường Sa.

Từ đầu thập niên 1970, tại các cuộc họp của Ủy ban Đáy biển và Ủy ban Kinh tế khu vực, đại diện Trung Quốc liên tục đưa các thực thể đảo vào nghị trình. Tháng 3 năm 1972, đại diện Trung Quốc tuyên bố “Đài Loan và các đảo của nó, bao gồm Điếu Ngư, Hoàng Sa, Trường Sa và vùng biển lân cận là lãnh thổ và vùng biển thuộc Trung Quốc; mọi hoạt động thăm dò, khai thác của nước khác mà không được Trung Quốc cho phép là bất hợp pháp.” Tháng 4 năm 1974, đại diện Hoàng Minh Đạt (Huang Mingda) nhắc lại lập trường này tại cuộc họp thứ 30 của ESCAP.

Sau Hải chiến Hoàng Sa năm 1974, khi Việt Nam Cộng hòa đưa vấn đề Hoàng Sa ra Hội đồng Bảo an, Chủ tịch HĐBA Gonzalo Facio tiếp nhận cáo buộc, và Trung Quốc đã phản ứng bằng cách bác bỏ thẩm quyền của HĐBA, khẳng định đây là “vấn đề chủ quyền nội bộ.” Tiếp đó, tại UNCLOS III và các ủy ban kinh tế khu vực, Trung Quốc chủ động khuếch đại luận điểm rằng “Việt Nam trước năm 1974 từng thừa nhận hai quần đảo thuộc Trung Quốc,” dẫn chứng Công hàm Phạm Văn Đồng năm 1958, bản đồ và sách giáo khoa của Bắc Việt Nam thời kỳ đó – một tuyên bố mà Hà Nội kiên quyết bác bỏ về mặt pháp lý.

Bắc Kinh cũng sớm có sự kiểm soát diễn ngôn kỹ thuật và bản đồ một cách gắt gao. Bắc Kinh gây sức ép để Ban Thư ký ESCAP sửa đổi tài liệu đã phân loại Hoàng Sa và Trường Sa là “thuộc vùng gần bờ Việt Nam,” đồng thời phản đối và yêu cầu chấm dứt hoạt động của “Ủy ban thủy văn Biển Nam Trung Hoa” tại Hội nghị Bản đồ ESCAP năm 1974. Chiến lược này cho thấy Bắc Kinh không chỉ đấu tranh ở cấp độ chính trị mà còn quyết liệt kiểm soát cả hạ tầng kỹ thuật và bản đồ của Biển Đông.

Trên cơ sở tự nhận quyền chủ quyền, Trung Quốc cũng phản đối mạnh mẽ Thoả thuận Phát triển chung thềm lục địa Nhật Bản – Hàn Quốc (Biển Hoa Đông) và hợp tác dầu khí Việt Nam – Liên Xô (phát biểu ngày 21 tháng 7 năm 1980), gắn nhãn các hoạt động này là “xâm phạm chủ quyền và quyền chủ quyền của Trung Quốc.”

II. Hàm ý cho Việt Nam

Bài viết của Quách Uyên không đơn thuần là nghiên cứu lịch sử trung lập. Như một sản phẩm thường thấy của học thuật chính sách Trung Quốc, nơi phân tích lịch sử thường được định hướng để phục vụ luận điểm hiện tại, nó minh họa cách Bắc Kinh kiến tạo vỏ bọc “chính danh dựa trên tiến trình lập pháp quốc tế” cho những yêu sách mà Tòa Trọng tài 2016 đã xác định là không có cơ sở theo UNCLOS. Bài viết trên cung cấp thêm một minh chứng rằng chiến lược biển của Trung Quốc không phải là tập hợp các phản ứng tình huống, mà là một cấu trúc được xây dựng bền bỉ và nhất quán với tầm nhìn dài hạn.

1. “Vũ khí hoá” vùng xám và chiến tranh pháp lý

Từ việc tham gia trực tiếp vào định hình UNCLOS, Trung Quốc đã kiến tạo ngôn ngữ lập pháp để bảo vệ và mở rộng không gian chiến lược của mình, vũ khí hoá những sự mơ hồ còn tồn tại trong UNCLOS. Quách Uyên nhấn mạnh rằng UNCLOS chứa nhiều điều khoản thỏa hiệp, thiếu tiêu chuẩn chặt chẽ, nhưng ông không chỉ ra rằng kết quả này có một phần mà Trung Quốc tham gia tạo nên. Những khái niệm chưa rõ ràng như “mục đích hòa bình” trong nghiên cứu khoa học biển, “nguyên tắc công bằng” trong phân định biển đã để lại những vùng xám mà Bắc Kinh đã nhận diện từ sớm và có sự chuẩn bị lấp đầy bằng thực tiễn đơn phương.

Mặt khác, phân tích này cũng phơi bày một nghịch lý, đó là chính những hành động mà năm xưa Trung Quốc coi là bá quyền hàng hải và dựa trên đó để bảo vệ quyền kiểm soát EEZ, quyền kiểm soát nghiên cứu khoa học và hải trình tàu chiến, lại là những gì Trung Quốc đang thực thi ngày nay đối với các nước nhỏ hơn ở Biển Đông. Trung Quốc đã tự vạch ra logic mà nay các nước khác có thể sử dụng để đánh giá hành vi của họ.

2. Biến rủi ro thành cơ hội

Mặc dù vậy, những mơ hồ còn tồn tại của UNCLOS có thể là rủi ro nhưng cũng có thể cơ hội đối với các nước đang bị Trung Quốc tranh chấp về yêu sách biển. Như chúng tôi đã phân tích trong một bài viết vào tháng 6 năm 2025: “Vùng xám có thể là rào cản đối với những quy trình máy móc, nhưng cũng có thể là cơ hội để Việt Nam chủ động dẫn dắt, định hình sự phát triển của luật quốc tế để bảo vệ lợi ích chính đáng của mình và tranh thủ sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế.” [2] Việt Nam cần chủ động xây dựng hồ sơ diễn giải riêng, thông qua công hàm, phát biểu tại các diễn đàn Liên Hợp Quốc, các nghiên cứu và tranh biện trên các diễn đàn có ảnh hưởng. 

Việt Nam có lẽ đã chuẩn bị một bộ lập luận làm rõ khái niệm “công bằng và hợp lý” trong phân định biển. Mặc dù quá trình đàm phán phân định biển không thể công khai, nhưng kênh học giả có thể là nơi để những lập luận về phân định biển có thể được tranh biện và được phản biện dưới lăng kính thuần tuý chuyên môn, mà không nhất thiết phải làm lộ lập trường của Việt Nam.

Về vấn đề nghiên cứu khoa học biển, lập luận của chính Trung Quốc tại UNCLOS về bản chất kép của dữ liệu biển cung cấp nền tảng để Việt Nam đặt câu hỏi về tính hợp lệ của các hoạt động mà tàu nghiên cứu/khảo sát Trung Quốc tiến hành trong EEZ Việt Nam, sử dụng chính ngôn từ và logic mà Bắc Kinh đã xây dựng 50 năm trước.

3. Tư duy chiến lược dài hạn và bài học xây dựng “quyền lực diễn ngôn”

Cuối cùng, bài học quan trọng nhất từ bài viết của Quách Uyên có lẽ là tư duy chiến lược dài hạn của Trung Quốc: Luật pháp quốc tế không chỉ là không gian kín chỉ áp dụng các quy tắc đã có sẵn. Đó còn là đấu trường để kiến tạo các quy tắc mới và diễn giải những quy tắc hiện hành. Trung Quốc hiểu rõ điều này ít nhất từ năm 1971. Để bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình tại Biển Đông, Việt Nam cần tiếp cận đấu trường đó với sự chuẩn bị tương xứng, không chỉ về pháp lý kỹ thuật, mà còn về năng lực kiến tạo diễn ngôn trong dài hạn. 

Việt Nam đã có thành công cụ thể khi tận dụng vai trò Chủ tịch ASEAN năm 2020 để lần đầu tiên đưa vào Tuyên bố Chủ tịch ASEAN ngôn ngữ trực tiếp xác nhận UNCLOS là “khung pháp lý điều chỉnh mọi hoạt động trên biển” [3] – một bước chuyển dịch đáng kể trong ngôn từ ngoại giao của khối.[4] Cùng năm đó, chuỗi công hàm của Việt Nam tranh biện tại Liên Hợp Quốc, đặc biệt Công hàm số 22/HC-2020, đã khẳng định UNCLOS là “cơ sở pháp lý duy nhất” để xác định quyền hưởng dụng biển giữa Việt Nam và Trung Quốc, [5] qua đó củng cố xu hướng hội tụ quốc tế về vai trò trung tâm của UNCLOS ở Biển Đông. [6]

Tuy nhiên, năng lực lập ngôn của Việt Nam còn bị hạn chế bởi đội ngũ nghiên cứu Biển Đông mỏng, tập trung chủ yếu vào một đầu mối duy nhất, số lượng ấn phẩm xuất bản còn rất ít so với Trung Quốc hay thậm chí Philippines. Mô hình hội nghị quốc tế hiện tại, chủ yếu mời học giả nước ngoài về thảo luận, có giá trị ngoại giao nhưng không thể thay thế được nhu cầu xây dựng một đội ngũ học giả trong nước có năng lực xuất bản và tranh biện độc lập trên các diễn đàn quốc tế. Để tạo ra năng lực lập ngôn thực sự, Việt Nam cần đầu tư vào một hệ sinh thái nghiên cứu đa dạng hơn, tạo điều kiện cho nghiên cứu độc lập, để tạo cơ hội phát triển nhiều luận điểm và chiến lược khác nhau phục vụ cho việc hoạch định chính sách. Kinh nghiệm của Trung Quốc cho thấy một hệ sinh thái nghiên cứu đa tầng, với đầu ra đa dạng cả trong và ngoài nước, tạo ra khả năng thích ứng chiến lược cao hơn so với mô hình kiểm soát bằng hình thức tập trung. [7]

Nguyễn Hoàng Trang là cộng tác viên thử việc, và TS. Phạm Thanh Vân là thành viên Dự án Đại Sự Ký Biển Đông.

Tài liệu tham khảo

[1] Guo, Y. [郭渊]. (2012). The UNCLOS conferences and China’s safeguarding of its maritime rights and interests [国际海洋法会议与中国对海洋权益的维护] (Biên dịch bởi Viện Chiến tranh Hải quân Hoa Kỳ). Contemporary China History Studies [当代中国史研究], (1), 104-113. Tải toàn văn bài viết ở đây.

[2] Phạm Thanh Vân và cộng sự. (2025). Hoạt Động Của Tàu Bắc Điều 996: Lựa Chọn Cho Việt Nam. Dự án Đại Sự Ký Biển Đông. https://dskbd.org/2025/06/30/hoat-dong-cua-tau-bac-dieu-996-lua-chon-cho-viet-nam/

[3] Association of Southeast Asian Nations. (2020, ngày 26 tháng 6). Chairman’s statement of the 36th ASEAN Summit: Cohesive and responsive ASEAN. https://asean.org/chairmans-statement-of-the-36th-asean-summit-26-june-2020-cohesive-and-responsive-asean/

[4] Hoang, T. H. (2020). ASEAN and the South China Sea code of conduct: Raising the aegis of international law (ISEAS Commentary 2020/141). ISEAS–Yusof Ishak Institute. https://www.iseas.edu.sg/media/commentaries/asean-and-the-south-china-sea-code-of-conduct-raising-the-aegis-of-international-law/

Thayer, C. A. (2020, ngày 27 tháng 6). 36th ASEAN Summit and the South China Sea: A textual analysis [Thayer Consultancy Background Brief]. Thayer Consultancy.

[5] Permanent Mission of the Socialist Republic of Viet Nam to the United Nations. (2020, 30 tháng 3). Note verbale No. 22/HC-2020. United Nations. https://www.un.org/Depts/los/clcs_new/submissions_files/mys_12_12_2019/VN20200330_ENG.pdf

[6] Khảo sát của Dự án Đại Sự Ký Biển Đông về các tuyên bố chính thức của các quốc gia Đông Nam Á, Hoa Kỳ, Úc và EU liên quan đến Biển Đông (chưa công bố).

[7] Ví dụ như Glaser, B. S., & Saunders, P. C. (2002). Chinese civilian foreign policy research institutes: Evolving roles and increasing influence. The China Quarterly, 171, 597–616. https://doi.org/10.1017/S0009443902000372

Ngeow, C. B. (2024). The rise of China’s South China Sea think tanks: Nexus, network, narrative. The China Review, 24(1), 197–232.

Chính Sách Tiếp Cận Báo Cáo Và Dữ Liệu Chuyên Sâu Của Dự Án Đại Sự Ký Biển Đông.

Nguyên tắc hoạt động của Dự án Đại Sự Ký Biển Đông.

—————

Dự án Đại Sự Ký Biển Đông tồn tại dựa trên tài trợ của cộng đồng. Nếu quý độc giả muốn có một nguồn thông tin tri thức khách quan, đa chiều dựa trên chiều sâu chuyên môn và dữ liệu có hệ thống, Dự án Đại Sự Ký Biển Đông là một địa chỉ mà mọi người có thể tin tưởng. Hãy chung tay cùng với chúng tôi duy trì Dự án bằng cách tài trợ cho Dự án, và khuyến khích bạn bè, đồng nghiệp cùng tài trợ Dự án. Xem hướng dẫn tài trợ ở đây: https://dskbd.org/tai-tro-cho-du-an/. Báo cáo tài chính sẽ được tổng kết vào cuối mỗi hai năm. Chúng tôi xin trân trọng cảm ơn.

Leave a comment

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.